Chương I: Hoạt động huy động vốn của của ngân hàng thương mại Chương II: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Chương III: Giải pháp tăng cường huy động vốn tại ngân hàng TNHH MTV Đại Dương -chi nhánh Thăng Long SV: Đặng Thị Hanh 2 Lớp: Ngân hàng CLC K55 Chuyên dé thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS. Cao Thị Ý Nhỉ CHUONG I: HOAT DONG HUY ĐỘNG VON CUA NGAN HANG THUONG MAI 1.1 Khái niệm và các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Ngân hàng thương mại Ngân hàng bao gồm nhiều loại tuỳ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó NHTM thường chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần và số lượng các Ngân hàng. NHTM là một tổ chức tài chính trung gian mà hoạt động chủ yếu là tiếp nhận các khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế với nhiệm vụ hoàn trả và sử dụng sỐ tiền đó để cho vay, thực hiện các nhiệm vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán và cung cấp các dịch vụ cho doanh nghiệp, tư nhân, hộ gia đình, các nhà xuất nhập khẩu.
Theo Luật các tổ chức tin dụng được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII thông qua ngày 16/06/2010 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2011: “Ngân hàng thương mai là tổ chức tin dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan nhằm mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng và các qu y định khác của pháp luật ”. Theo Luật Ngân hàng nhà nước: “Hoat động ngân hàng là hoạt động ki nh doanh tiên tệ và dịch vụ ngán hang với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và su dụng sỐ tiễn này dé cap tin dụng, cung ứng dich vu thanh toán ”. Như vậy, NHTM là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thi trường. Nhờ hệ thống định chế này mà các nguồn tiền vốn nhàn rỗi sẽ được huy động, tạo lập nguồn vốn tín dụng to lớn dé có thé cho vay phát triển kinh tế.
Vai trò của ngân hàng thương mại a. Chức năng làm thủ quỹ cho xã hội. Cơ sở để thực hiện chức năng này là các ngân hàng thương mại nhận tiền gửi của công chúng, các doanh nghiệp, và các tô chức, giữ tiền cho khách hàng của mình, đáp ứng các nhu cầu rút tiền và chỉ tiền của họ. Trước đây, các ngân hàng chỉ là người giữ tiền hộ và những người nào gửi tiền tại ngân hàng thì phải trả phí cho ngân hàng, về sau các ngân hàng đã sử dụng khoản tiền gửi này để cho vay, do đó thay vì việc khách hàng phải trả thù lao cho ngân hàng thì ngân hàng phải trả lãi cho khách hàng của mình.
SV: Đặng Thị Hanh 3 Lớp: Ngân hàng CLC K55 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS. Cao Thị Ý Nhi Ngày nay, khi mà nền kinh tế ngày càng phát triển, thu nhập của người dân, doanh nghiệp, ngày càng cao, các khoản tiền gửi của các tổ chức xã hội ngày càng nhiều thì nhu cầu bảo vệ tài sản và mong muốn sinh lời từ khoản tiền đó tăng lên đáng kể, chức năng này của ngân hàng càng trở lên rõ rệt. Nó đem lại lợi ích cho cả ngân hàng, người gửi tiền. - Đối với khách hàng, thông qua việc gửi tiền vào ngân hàng, họ không những được bảo đảm an toàn về tài sản mà còn thu được khoản lợi tức từ ngân hàng (trừ trường hợp ngân hàng mắt khả năng thanh toán không đáp ứng được nhu cầu rút tiền từ khách hàng).
- Đối với ngân hàng, chức năng này làm cơ sở dé ngân hàng thực hiện chức năng trung gian thanh toán, đồng thời tạo ra nguồn vốn chủ yếu cho ngân hàng thương mại thực hiện chức năng trung tín dụng. Chức năng trung gian thanh toán. Chức năng trung gian thanh toán được thực hiện trên cơ sở chức năng làm thủ quỹ cho xã hội của các ngân hàng. Các ngân hàng nhận tiền gửi và theo dõi các khoản thu, chỉ trên tài khoản tiền gửi của khách hàng là tiền đề để ngân hàng thực hiện chức năng này.
Hơn nữa, việc thanh toán bằng tiền mặt giữa các chủ thể trong nền kinh tế có nhiều hạn chế như: không an toàn do phải vận chuyền tiền, chi phí thanh toán lớn, đặc biệt là đối với khách hàng ở cách xa nhau đã tạo nên nhu cầu thanh toán qua ngân hàng. Khi làm trung gian thanh toán, NHTM tiến hành những nghiệp vụ như: Mở tài khoản tiền gửi, nhận vốn tiền gửi vào tài khoản và thanh toán theo yêu cầu của khách hàng. Trong đó thanh toán theo yêu cầu của khách hàng là kết quả sau khi thực hiện hai công việc trên. Ngân hàng trích tiền từ tài khoản tiền gửi của khách hàng để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi, tiền thu ban hàng và các khoản thu khác theo lệnh của khách hàng.
Chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa quan trọng đối với hoat động kinh tế. Nó giúp tiết kiệm chí phí lưu thông tiền mặt, đảm bảo thanh toán an toàn, cho phép khách hàng thực hiện thanh toán nhanh chóng và có hiệu quả, điều này góp phần làm tăng nhanh tốc độ lưu thông hàng hóa, tốc độ luân chuyển vốn và hiệu quả của quá trình tái sản xuất xã hội. Qua đó, nâng cao uy tín của ngân hàng với khách hàng, góp phần thu hút vốn tiền gửi vào ngân hàng.Chức năng trung gian tín dụng Ngân hàng là một tổ chức chuyên kinh doanh tiền tệ, tín dụng, có khả năng nhận biết biết tình hình cung cầu tín dụng. Bằng việc thu hút một lượng vốn tiền gửi lớn nhàn rỗi trong nền kinh tế hình thành nên quỹ cho vay rồi đem cho vay, ngân SV: Đặng Thị Hạnh 4 Lớp: Ngân hàng CLC K55 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS.
Cao Thị Ý Nhi hang đã trở thành “cầu nối” giữa người dư thừa vốn và người có nhu cầu về vốn, lúc này ngân hàng vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là ngườ i cho vay. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng đã tạo ra lợi ích đố i với tất cả các bên trong mối quan hệ tín dụng. - Đối với người gửi tiền thì thu được lợi từ nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của mình thông qua các khoản tiền gửi. Không những vậy ngân hàng còn đảm bảo an toàn cho các khoản tiền gửi và cung cấp cho khách hàng các dịch vụ thanh toán tiện lợi.
- Đối với người đi vay thì sẽ thỏa mãn được nhu cầu vốn để kinh doanh, chỉ tiêu, thanh toán mà không phải chi phí nhiều về sức lực, thời gian cho việc tìm kiếm nơi cung ứng vốn tiện lợi chắc chắn, hợp pháp. - Đối với ngân hàng, bản thân ngân hàng sẽ kiếm được lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất và lãi suất tiền gửi hoặc hoa hồng phí môi giới, giúp cho ngân hàng tồn tại và phát triển. - Đối với nền kinh tế, chức năng này điều hòa lưu thông tiền tệ, én định sức mua đồng tiền, kiềm chế lạm phát, đồng thời thúc đây tăng trưởng kinh tế do nó đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình tái sản xuất được thực hiện liên tục và dé mở rộng quy mô sản xuắt.Chức năng tạo tiền của ngân hàng. Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của ngân NHTM.
Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự ton tại và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế. Tuy nhiên, để thực hiện được chức năng này cần có sự phân hóa trong hệ thống ngân hàng. Một mặt, chỉ có ngân hàng trung ương giữ độc quyền phát hành giấy bạc ng ân hàng và với vai trò ngân hàng của các ngân hàng.Mặt khác, các ngân hàng thương mại kin h doanh tiền tệ trong mối quan hệ với khách hàng phải thực hiện thông qua hệ thống tài khoản của ngân hàng. Bằng việc kết hợp giữa chức năng trung gian tín dụng và chức năng trung gian thanh toán làm cho hệ thống ngân hàng thương mại có khả năng tạo tiền gửi thanh toán.
Thông qua chức năng làm trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụ ng số tiền vốn huy động được dé cho vay, số tiền cho vay lại được khách hàng sử dụng thanh toán chuyển khoản cho khách hàng ở ngân hàng khác và chỉ khi thực hiện nghiệp vụ cho vay, ngân hàng mới bắt đầu tạo tiền. Số tiền gửi ban đầu đã tăng lên gấp bội thông qua hệ thống tài khoản ngân hàng. Giả sử rằng tất cả các NHTM đều không giữ lại tiền dự trữ quá mức quy định, các séc không chuyền thành tiền mặt và các SV: Đặng Thị Hanh 5 Láp: Ngân hàng CLC K55 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: PGS. Cao Thị Ý Nhi yếu tố phức tạp khác bị loại bỏ thì quá trình tạo tiền như sau: Với lượng tiền gửi ban đầu là 1.000 thì lượng tiền sau khi qua hệ thống ngân hàng sẽ có được như bảng trên.1: Bảng tạo tiền thông qua hệ thống ngân hàng.
Tên các ngân hàng Tiên gửi mới. | Dự trữ bat buộc cho vay mới Ngân hàng A 1.000 Tiên toàn hệ thông ngân hang 10.000 Chức năng tạo tiên có ý nghĩa quan trọng: + Khối lượng tiền do các NHTM tạo ra có ý nghĩa lớn, tạo ra những đi ều kiện thuận lợi cho sự phát triển của quá trình sản xuất kinh do anh đáp ứng nhu cầu sử dụng tiền của xã hội. + Việc tạo ra tiền chuyên khoản để thay thế cho tiền mặt là một sáng ki ến quan trọng thứ hai của lịch sử hoạt động ngân hàng. Chính nhờ phương thức tạo tiền đã tiết kiệm được cho phí lưu thông và ngân hàng trở thành trung tâm của đời song kinh tế xã hội.
Nguồn: http://quantri.vn/dictdetails/8299-cac-chuc-nang-cua-ngan-hang- thuong-mai 1. Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại + Nhận tiền gửi hay còn gọi là hoạt động tạo lập nguồn vốn: NHTM là một loại hình doanh nghiệp, bởi vậy muốn mở rộng các hoạt động kinh doanh, nó phải tự lập được nguồn vốn. + Cấp tín dụng hay còn gọi là hoạt động sử dụng vốn: Sử dụng vốn là hoạt động kinh doanh chủ yếu và quan trọng nh ất của NHTM.