Chương 1: Những vấn đề cơ bản về thẩm định tín dụng trong hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng công tác thâm định trong cho vay khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng TNHH Indovina - chi nhánh Mỹ Đình. Chương 3: Giải pháp tăng cường công tác thâm định trong hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng TNHH Indovina - chi nhánh Mỹ Đình. 2 CHƯƠNG1 : NHỮNG VAN DE CƠ BAN VE THAM ĐỊNH TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CUA NGÂN HANG THƯƠNG MẠI 1.1 Cho vay doanh nghiệp của ngân hàng 1.1 Khái niệm Trước khi tìm hiểu cụ thể về cho vay doanh nghiệp thì dưới đây là một số khái niệm về hoạt động cho vay nói chung của ngân hàng thương mại.
Cho vay là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định. Cho vay là tài sản lớn nhất trong khoản mục tín dụng. (Phan Thị Thu Hà, 2013, 71) Cho vay là một giao dịch về tài sản (bằng tiền) giữa bên cho vay (ngân hàng) và bên đi vay, trong đó bên cho vay chuyển giao tai sản cho bên đi vay và sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. (Hỗ Diệu, 2001) Ứng dụng khái niệm đó ở Việt Nam, theo Điều 3, Thông Tư 39/2016/TT- NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chỉ nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng quy định cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Từ những khái niệm về cho vay, cho vay doanh nghiệp được hiểu là : Cho vay doanh nghiệp của ngân hàng thương mại là hình thức cấp tín dụng của ngân hàng đối với doanh nghiệp, theo đó ngân hàng giao cho doanh nghiệp một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.2 Phân loại hoạt động cho vay doanh nghiệp Phân loại hoạt động cho vay là hoạt động giúp ngân hàng có thể quản lý khoản vay tốt hơn. Có nhiều hình thức phân loại cho vay doanh nghiệp, dưới đây là một số hình thức phân loại chính : 1.1 Theo hình thức cấp cho vay Cho vay trực tiếp từng lan : là hình thức cho vay phô biến của ngân hàng. Mỗi làn vay, khách hàng phải làm đơn và trình ngân hàng phương án sử dụng vốn vay. Ngân hàng sẽ phân tích khách hàng, thâm định dự án và ký hợp đồng cho vay, xác định mục đích, quy mô cho vay, thời hạn giải ngân, thời hạn trả nợ, lãi suất và yêu cầu đảm bảo nếu cằn.Mỗi món vay được tách biệt thành những hồ sơ khác nhau.
Theo từng kì hạn nợ trong hợp đồng, ngân hàng sẽ thu gốc và lãi. Nghiệp vụ cho vay từng lần tương đối don giản. Ngân hàng có thể kiểm soát từng món vay tách biệt. Tiền cho vay dựa vào giá trị của tài sản đảm bảo.
Cho vay theo hạn mức cho vay: Đây là nghiệp vụ theo đó ngân hàng thoả thuận cấp cho khách hàng hạn mức cho vay trong khoảng thời gian và cho vay theo hạn mức đó. Như vậy, khi cấp hạn mức, ngân hàng cam kết cho va y nếu khách hàng đáp ứng đủ điều kiện. Hạn mức cho vay là mức dư nợ vay tối đa được duy trì trong một thời gian nhất định (thường là 1 năm) mà ngân hang và khách hang đã thỏa thuận trong hợp đồng hạn mức.Hạn mức cho vay được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng. Trong kì khách hàng có thể thực hiện vay trả nhiều lần, song dư nợ không vượt quá hạn mức cho vay trong kỳ.
Đây là hình thức vay thuận tiện cho khách hàng vay mượn thường xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh (ngân hàng cam kết cho vay, thời gian xét duyệt cho từng lần vay nhanh, đảm bảo tiền vay thuận tiện). Đối với khách hàng có uy tín, ngân hàng sẽ thu nợ khi khách hàng có thu nhập, chứ không định kỳ hạn nợ cụ thể cho từng lần vay,do đó tạo điều kiện chủ động quản lý ngân quỹ cho khách hàng. Cho vay luân chuyển : là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển hàng hoá. Doanh nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn, ngân hàng có thé ch o vay đề mua hàng và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng.
Người vay cam kết các khoản vay sẽ được trả cho người bán và mọi khoản thu bán hàng déu dùng trả vào tài khoản tiền vay trước khi trích trả lại tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng. Theo hình thức này, giá trị hàng hóa mua vào (có hóa đơn, hợp pháp, hợp lệ, đúng đối tượng) đều là đối tượng được ngân hàng cho vay: thu nhập bán hàng đều là nguồn đề chỉ trả cho ngân hàng. Các khoản phải thu và hàng hóa trong kho trở thành đảm bảo cho khoản vay. Cho vay luân chuyển thường được áp dụng đối với các doanh nghiệp thương nghiệp hoặc doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ tiêu thụ ngắn ngày, có quan hệ vay trả thường xuyên với ngân hàng.
Cho vay luân chuyên rất thuận tiện cho các khách hàng: thủ tục vay chỉ cần thực hiện 1 lần cho nhiều lần vay, khách hàng được đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời. Vì vậy việc thanh toán cho người cung cấp sẽ nhanh gọn. Còn đối với ngân hàng, nếu doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiêu thụ (hàng hoá tồn đọng.) thì ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong việc thu hồi vốn do thời hạn của khoản vay không được quy định rõ ràng. Cho vay hợp vốn: Một nhóm tô chức cho vay cùng cho vay đối với một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng, trong đó có một tổ chức cho vay làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với một tổ chức cho vay khác.
Việc cho vay hợp vốn thực hiện theo quy định của Quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng và Quy chế đồng tài trợ của các tổ chức tín dụng. Hình thức cho vay này thường áp dụng đối với những dự án quy mô lớn, một ngân hàng không đủ khả năng cho vay đồng thời cũng không thê chịu đựng được rủi ro khi dự án không thành công. Vì vậy khi nhận được dự án vay vốn, ngân hàng này liên kết với nhiều ngân hàng khác để cùng tài trợ cho dự án. Theo thời hạn cho vay Thời hạn cho vay là khoảng thời gian tính từ khi khách hàng nhận vốn vay cho đến thời điểm khách hàng trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được thoả thuận trong hợp đồng cho vay giữa tổ chức cho vay và khách hàng.
Theo Điều 10, Thông tư số 39/2016/TT-NHNN thì cho vay có thé chia làm thành ba loại: Cho vay ngắn hạn: là các khoản cho vay có thời hạn cho vay tối đa 1 năm. 5 Hầu hết những khoản cho vay là nhằm hỗ trợ cho việc tăng dự trữ hàng hoá, dịch vụ cho người vay hoạt động theo mùa. Khoản vay này được hoàn trả khi hàng tồn kho của người vay được bán và các khoản thu của nó được thu hồi; lãi suất chỉ được tính trên số vốn vay thực. Cho vay trung hạn: là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 1 năm và tối đa 5 năm.
Cho vay đài hạn : là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 5 năm. Cho vay trung và dài hạn thường dùng để tài trợ cho việc mua tài sản cố định hoặc mở rộng sản xuất với quy mô lớn, cấp tài chính cho việc thay đôi về công tác kiểm soát công ty hoặc mua lại khoản vay cho vay tuần hoàn. Theo đối tượng cho vay Đối tượng cho vay được xét trên các khía cạnh là quy mô vốn, quy mô lao động là chủ yếu và được chia ra làm hai loại : cho vay doanh nghiệp lớn và cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tại nước ngoài, doanh nghiệp được phân loại quy mô theo số lượng lao động, tổng nguồn vốn hoặc doanh thu hàng năm.
Liên minh Châu Âu đã ban hành Nghị định 2003/361/EU về việc định nghĩa các doanh nghiệp như sau : Bang 1.1: Phân loại quy mô doanh nghiệp tại Châu Âu Sô lao động Doanh thu hàng Tông nguôn von Doanh nghiệp nhỏ đưới 50 người không dưới 10 không dưới 10 triệu Euro triệu Euro Doanh nghiệp vừa | đưới 250 người không dưới 50 không dưới 43 triệu Euro triệu Euro Doanh nghiệp lớn | từ 250 người trở lên từ 50 triệu Euro từ 43 triệu Euro trở lên trở lên Nguôn: (EU, 2003) Khác với nước ngoài, tại Việt Nam, yếu tố để phân loại quy mô doanh nghiệp hiện nay bao gồm sé lao động, quy mô vốn và ngành nghề. Cụ thể như sau : Bảng 1.2: Phân loại quy mô doanh nghiệp tại Việt Nam Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Tổng Số lao Tổng động nguồn vốn F$ I. Nông, lâm từ trên 20 tỷ nghiệp và thủy đồng đến 200 người sản 100 tỷ đồng đến 300 người II. Công nghiệp từ trên 20 tỷ từ trên và xây dựng đồng đến 200 người 100 tỷ đồng đến 300 người HI.
Thương mại từ trên 10 tỷ từ trên 50 và dịch vụ đồng đến 50 người đến tỷ đồng 100 người Việc phân loại như thế này sẽ giúp cho việc quản lý, việc cho vay đối với những đối tượng này có hiệu quả hơn.Theo tài sản dam bảo Trong nhiều trường hợp, ngân hàng yêu cầu khách hàng phải có tài sản đảm bảo khi vay. Lí do là khách hàng luôn phải đối đầu với những rủi ro trong kinh doanh, có thể mất khả năng trả nợ cho ngân hàng.Những biến cố không mong đợi có thể gây cho ngân hàng những tồn thất lớn. Chính vì vậy, trừ những khách hàng có uy tín cao, nhiều khách hàng phải có tài sản đảm bảo khi nhận cho vay của ngân hàng. Yêu cau phải có tài sản đảm bảo, ngân hàng muốn có được nguồn trả nợ thứ hai khi nguồn thứ nhất là thu nhập từ hoạt động kinh doanh không đảm bảo trả nợ.