Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH DI CƢ LAO ĐỘNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 1. Tình hình di lao động trên thế giới Di cư lao động là một hiện tượng xã hội đặc biệt. Nó xuất hiện rất sớm và phát triển cùng với quá trình phát triển của xã hội loài người.
Đó là hiện tượng con người chuyển nơi sinh sống từ vùng này đến vùng khác phần nhiều do mưu sinh. Đầu tiên là hình thức đi tìm những “vùng đất mới”, nơi có nhiều thức ăn và tránh được những điều kiện khắc nghiệt của thời tiết, bệnh dịch hay thú dữ trong hình thái kinh tế xã hội thị tộc, bộ lạc. Ngày nay, di cư vẫn còn tồn tại và mang nhiều màu sắc khác nhau. Di cư ngày nay là sự di chuyển nơi sinh sống từ vùng này sang vùng khác trong một nước, từ nước này sang nước khác hoặc thậm chí từ châu lục này sang châu lục khác.
Từ nhiều thế kỷ nay, các nước ở châu Âu và Mỹ được coi là “miền đất hứa”, khi hàng năm thu hút hàng trăm triệu người từ nhiều nơi trên thế giới tìm mọi cách “lọt” vào lãnh thổ của họ. Có thể nói những bước chân của người di cư từ hàng chục năm nay không khác nhau nhiều về mục đích. Hầu hết những người di cư trên thế giới rời bỏ đất nước mình, quê hương mình với mong muốn tìm kiếm cơ hội để có một tương lai tốt đẹp hơn và những người di cư này cũng đóng góp một phần đáng kể cho sự phát triển kinh tế của đất nước và của vùng mà họ đến. Chỉ tính riêng năm 2000, các nước phát triển ở Châu Âu đã phải nhận tới 40% tổng số người di cư trên toàn cầu [36].
Có thể nói, chất lượng cuộc sống ở những nước này cao hơn nhiều lần so với nhiều nước đang phát triển ở châu Á và châu Phi, nên đây là nguyên nhân chính thu hút dân di cư đến các nước phát triển ở châu Âu, châu Mỹ. Vấn đề lao động di cư càng trở thành vấn đề “nóng” trước xu hướng toàn cầu hoá khi nó tác động đến tất cả mọi quốc gia trên thế giới, kể cả với 5 z những quốc gia có người di cư ra đi, lẫn những quốc gia được chọn làm điểm trung chuyển, rồi đến những quốc gia được coi là “Miền đất hứa” với hy vọng định cư lâu dài. Cuối năm 2002, có tới 10,4 triệu người trên thế giới đang nhận thân phận của người tị nạn, đây là con số do Cao uỷ Liên Hợp Quốc (LHQ) về người tị nạn công bố. Khoảng 1 triệu người khác đang nộp đơn mong muốn có một chỗ ở an toàn nhưng vẫn chưa được quyết định.
Con số này không bao gồm 4,1 triệu người tị nạn Palestin đang nhận sự hỗ trợ của Uỷ ban Cứu trợ của LHQ [36]. Những nghiên cứu từ góc độ di cư quốc tế cho thấy những chuyến “vượt biên” của người di cư thường gắn liền với sự hiểm nguy. Giấc mơ về một cuộc sống sung túc hơn đã khiến nhiều người trở thành nạn nhân của những kẻ buôn người, của những ổ mại dâm, ma túy. Ngay cả khi đến được “miền đất hứa”, không ít người di cư bị lợi dụng, ốm đau không được chăm sóc, con cái họ ít được đi học, cuộc sống của họ bị đẩy vào cảnh bần cùng, nhiều người trong số họ trở thành tội phạm.
Cuộc sống của họ cũng không dễ dàng hơn so với cuộc sống ở quê hương. Tuy nhiên, khát vọng thay đổi số phận vẫn khiến hàng triệu người di cư mỗi năm chấp nhận hiểm nguy để tìm kiếm cơ hội “đổi đời”. Tại hầu hết các nước công nghiệp phát triển, lực lượng những người nhập cư đã và đang chiếm một phần quan trọng trong lực lượng lao động và họ đóng một vai trò không nhỏ trong nền kinh tế của đất nước họ di cư đến. Ví dụ như tại Ôxtrâylia, đội ngũ lao động nhập cư chiếm 26% lực lượng lao động [36].
Theo Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD) hiện nhiều nước công nghiệp phát triển đang nỗ lực để thu hút nhân tài và những lao động nhập cư có trình độ và kinh nghiệm từ những quốc gia đang phát triển. Chính phủ các nước này cũng dành mối quan tâm lớn trong việc đào tạo những lao động mới nhập cư để có thể thay thế một phần lực lượng lao động đang có xu hướng ngày càng già của mình. Đây là con đường ngắn nhất để có thể lấp vào những chỗ trống trong lực lượng lao động. Từ công việc lao động 6 z phổ thông phổ thông đến lao động cần "chất xám" ở những nước phát triển đều có sự tham gia của những người lao động nhập cư.
Lực lượng này đã đóng góp cho "miền quê mới" tri thức, sức lao động mà họ tích lũy từ nhiều năm. Theo tiết lộ trong bản tường trình hàng năm của tổ chức National Science Board, tại Mỹ hiện có 500 ngàn nhà khoa học đến từ châu Âu. Trong 10 năm qua, tỷ lệ các nhà khoa học Mỹ có xuất xứ ngoài nước Mỹ đã tăng từ 24% lên 38%. Có tới 75% các nhà khoa học có học vị Tiến sĩ (TS) từ các quốc gia thuộc Liên minh châu Âu (EU) đang làm việc tại Mỹ, khẳng định rằng, họ dự định tiếp tục sự nghiệp khoa học tại quốc gia này.
Hàng năm, có gần 20% sinh viên tốt nghiệp các trường đại học ở Đức bỏ ra nước ngoài và trên 30% đội ngũ TS thực hiện các hợp đồng nghiên cứu khoa học ở nước ngoài không trở về Tổ quốc. Trong số học có các chuyên gia thuộc lĩnh vực khoa học cơ bản, và cũng không hiếm các nhà sử học, các chuyên gia ngôn ngữ. Bù lại, họ có một số tiền nhất định để gửi về cho người thân đang sinh sống tại quê nhà. Hiện nay, số tiền do những người lao động di cư gửi về nhà đã trở thành một nguồn tài chính luân chuyển quan trọng trên thế giới.
Đối với nhiều nước đang phát triển, đây thực sự là nguồn ngoại tệ quan trọng và mang lại hiệu quả rõ rệt đối với kinh tế quốc gia và được đánh giá là quan trọng không kém những nguồn tài chính khác đến từ bên ngoài, như viện trợ phát triển, đầu tư nước ngoài và các nguồn hỗ trợ tài chính khác. Chỉ tính riêng năm 2001, số tiền do người lao động ở nước ngoài gửi về quê hương đã lên tới 72,3 tỷ USD [36]. Ngày nay, hơn 140 quốc gia đã ký hiệp định quốc tế, theo đó họ cùng chia sẻ trách nhiệm bảo vệ và công nhận cho những người di cư [36]. Nhiều nước giàu cũng liên tục có những chính sách "sàng lọc" người di cư, mở cửa cho những người có tài, khép chặt cửa đối với những lao động phổ thông.
Tuy nhiên, những dòng người di cư vẫn không có dấu hiệu dừng lại. Nó như những mạch nước ngầm, càng khơi càng chảy mạnh. Những thách thức mà nó 7 z đặt ra đã lớn tới mức các chuyên gia phải nghĩ đến biện pháp "mở cửa biên giới" cho các luồng di dân. Tuy nhiên, làm thế nào để có thể quản lý được "dòng chảy" này thì còn là một bài toán khó, phụ thuộc vào nhiều yếu tố và rất cần sự nỗ lực mang tính toàn cầu.
Có lẽ, chỉ khi đời sống của người dân ở mọi châu lục, mọi nước, mọi vùng đều phát triển ngang nhau và thế giới không còn nạn khủng bố, không còn chiến tranh nữa, thì "dòng chảy" của những người tị nạn, di cư mới giảm đi so với hiện nay. Trên đây là sơ lược tình hình di cư lao động có căn nguyên kinh tế trên thế giới. Tình hình di cư này trên thế giới ít nhiều cũng có liên quan đến tình hình di cư ở Việt Nam, phần nào cũng có những đặc điểm tương tự, chúng tôi xin trình bày ở phần tiếp theo đây. Tổng quan về tình hình di cƣ lao động ở Việt Nam 1.
Hiện tượng di cư ở Việt Nam Ở Việt Nam, hiện tượng di cư xuất hiện từ khá sớm và diễn ra trong suốt quá trình phát triển của đất nước với nhiều quy mô, hình thức, tính chất khác nhau. Thời phong kiến, các cuộc di cư của người Việt được biết đến dựa trên những tư liệu lịch sử như: Đại Việt sử ký toàn thư (Lê Văn Hưu), Hoàng Lê nhất thống trí (Ngô Thì Nhậm), Việt Nam sử lược (Trần Trọng Kim)v,v… Di cư ở giai đoạn này là sự di chuyển của những tập đoàn người từ phía Bắc vào phía Nam để mở mang bờ cõi. Trong đó, phần lớn người di cư là những tướng lĩnh, binh lính và gia đình của họ. Ngoài ra, có không ít những người di cư mang thân phận là tù binh, mang trọng tội phải đày ải đi xa.
Những dòng người này khai hoang ruộng đất, mở làng, lập ấp. Đây được coi là những hình thức di dân đầu tiên ở Việt Nam. Quá trình di cư ở Việt nam chịu tác động liên tục do chiến tranh, do chính trị, tôn giáo và do các chính sách về di cư của nhà nước. Cụ thể các giai đoạn như sau: Trước năm 1975, đất nước đang bị chia cắt làm hai miền, việc di 8 z dân trong giai đoạn này không chỉ diễn ra tại miền Bắc mà còn cả ở miền Nam.
Đặc biệt năm 1954, trong dòng người di cư từ Bắc vào Nam có 20.000 giáo dân di cư do niềm tin tôn giáo Đức mẹ đồng trinh đã bay vào Nam nên họ phải đi theo. Mỹ nguỵ cũng tiến hành việc di dân với tính chất, mục đích phục vụ ý đồ chiến tranh[33]. Tính chất di dân thời kỳ này là do niềm tin tôn giáo, do chiến tranh. Sau năm 1975, khi đất nước hoàn toàn thống nhất, di dân được tiến hành trên phạm vi cả nước.
Mục đích di dân thời kỳ này là đi khai hoang, xây dựng vùng kinh tế mới nhằm giải quyết vấn đề lương thực, thực phẩm, phát triển các vùng chuyên canh cây công nghiệp để phục vụ xuất khẩu [33]. Đối với những vùng nhập cư, dân di cư từ nơi khác đến góp phần tạo sự cân đối giữa lao động và đất đai, tạo điều kiện cho sự khai thác và phát huy các thế mạnh của vùng nơi họ nhập cư, điều này cũng đáp ứng được nhu cầu việc làm và cải thiện đời sống - mục đích chính của dân di cư thời kì này. Khi đất nước bước vào công cuộc đổi mới từ năm 1986 đến nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau, di dân theo kế hoạch của Nhà nước chững lại. Trong khi đó di cư tự do đến các đô thị, thành phố lớn dần tăng lên.