Chương 1 cũng trình bày mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu cũng như ý nghĩa và kết cấu luận văn. - 7- Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương này trình bày các lý thuyết, các nghiên trước trước có liên quan, mối quan hệ giữa các yếu tố tâm lý và xu hướng mua của nhà đầu tư cá nhân. Từ đó xây dựng giả thuyết và mô hình nghiên cứu. Bố cục chương này sẽ được trình bày như sau: - Lý thuyết tự nghiệm và hành vi đám đông - Các nghiên cứu trước - Phát triển giả thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất.1 Xu hướng mua Mô hình TRA của Ajzen và Fishbein giải thích những hoạt động trước khi hình thành nên hành vi tiêu dùng, mô hình cho thấy xu hướng tiêu dùng là yếu tố dự đoán tốt nhất về hành vi tiêu dùng, tức là hành vi được hình thành từ xu hướng và quyết định.
Cũng như Brown và cộng sự (2001), xu hướng mua liên quan đến khuynh hướng đối với hành vi mua, khuynh hướng này có thể được giải thích bằng các hình thức như là việc tìm kiếm thông tin đánh giá thay thế và tìm kiếm sản phẩm. Đầu tiên, xu hướng người tiêu dùng hình thành từ nhu cầu, bị chú ý bởi các thuộc tính có lợi, đo lường niềm tin và đánh giá thông qua nhận thức bản thân. Người tiêu dùng sẽ chú ý đến những thuộc tính mang lại các lợi ích cần thiết và có mức độ khác nhau. Đồng thời tham khảo thông tin và ý kiến của người liên quan ( gia đình, bạn, đồng nghiệp,…).
Người liên quan có thông tin gì liên quan, đánh giá như thế nào đến xu hướng mua và họ cảm thấy thế nào. Trong đề tài này, xu hướng tiêu dùng được xem như là xu hướng đầu tư và hành vi đầu tư được đề cập đến như hành vi tiêu dùng. Trong lĩnh vực đầu tư chứng khoán thì đầu tư là hành động lựa chọn, mua cổ phiếu của một công ty nào đó với - 8- mong muốn cổ phiếu đó sẽ được đánh giá cao và mang lại thu thập trong tương lai thông qua hành động bán cổ phiếu. Khi mua cổ phiếu, nhà đầu tư phải xem xét và đối mặt với nhiều lựa chọn, họ cảm thấy khó khăn để tìm ra cổ phiếu tốt trong hàng trăm cổ phiếu trên hệ thống niêm yết, trong khi nhà đầu tư chỉ được phép bán cổ phiếu có trong danh mục.
Từ đó dẫn đến hành động mua được chú ý và quan tâm hơn hành động bán, cũng như nghiên cứu của Barber và Odean (2002) đã cho thấy quyết định bán ít bị tác động và ít được chú ý hơn quyết định mua ở nhà đầu tư cá nhân. Đó cũng là lý do tác giả chỉ đề cập đến xu hướng mua trong đầu tư thay vì cả xu hướng mua và bán. Như vậy, xu hướng mua cổ phiếu được xem như là yếu tố có quan hệ mật thiết và gắn kết với hành vi mua, nhà đầu tư có xu hướng mua khác nhau sẽ dẫn đến hành vi khác nhau, từ việc hình thành xu hướng nhà đầu tư đưa ra quyết định mua. Xu hướng mua của nhà đầu tư cá nhân được thể hiện qua chuỗi hành động nhận thức, đánh giá, lựa chọn.
Nhà đầu tư có thể thích mua cổ phiếu có giá trị cao hoặc có giá trị thấp và có người ưu thích mạo hiểm, lướt sóng hoặc đầu tư giá trị lâu dài. Cổ phiếu họ mua có thể là cổ phiếu mua mới hoàn toàn ( chưa có trong danh mục đầu tư hiện tại hoặc trước kia ) hoặc là cổ phiếu nhà đầu tư từng mua trước kia ( mua lặp lại ).2 Một số lý thuyết nền Tuy rằng có rất nhiều quan niệm và lý thuyết tâm lý được các tác giả công nhận nhưng ở đề tài này tác giả chỉ nghiên cứu về lý thuyết hành vi theo đám đông, lý thuyết tự nghiệm và các lệch lạc bởi vì hai thuyết này ảnh hưởng trực tiếp và phổ biến đến hành vi và xu hướng trong đầu tư. Từng thuyết sẽ được trình bày chi tiết sau đây.1 Thuyết tự nghiệm Khởi đầu lý thuyết tự nghiệm có nhiều tác giả tuy nhiên Kahneman và Tversky là hai tác giả tiêu biểu với nghiên cứu mang tên “Xác suất chủ quan: Phán đoán qua tình huống điển hình”. Lý thuyết tự nghiệm gồm có ba thành phần: (i) tình huống điển hình, (ii) sự sẵn có, (iii) neo và điều chỉnh (Kahneman và Tversky, 1974).
Sau đó - 9- Waweru và cộng sự (2008) liệt kê thêm hai yếu tố (ảo tưởng con bạc, quá tự tin) vào lý thuyết tự nghiệm, Ackert và Deaves bổ sung yếu tố sự quen thuộc. Lý thuyết tự nghiệm được xem như một chiến lược có thể áp dụng cho nhiều vấn đề, đặc biệt là các vấn đề phức tạp, giúp nhà đầu tư giải quyết vấn đề dễ dàng hơn trong môi trường phức tạp và không chắc chắn (Ritter, 2003). Đồng thời Ackert và Deaves (2010) cho rằng tự nghiệm là giải pháp giải quyết vấn đề mà chỉ cần sử dụng một trong rất nhiều dữ liệu thông tin. Gigerenzer và Gaissmaier (2011) cho rằng lý thuyết tự nghiệm là quá trình nhận thức ( cố ý hay vô ý ) bỏ qua một phần thông tin, đơn giản hóa vấn đề trong một số tình huống.
Lý thuyết tự nghiệm phỏng đoán tình trạng của vấn đề bằng các đặc tính thay thế dễ ghi nhớ của vấn đề khác. Thêm nữa, Otuteye và Siddiquee (2013) xem lý thuyết tự nghiệm là công cụ thiết thực và hữu ích để đơn giản hóa việc ra quyết định trong một môi trường phức tạp do không chắc chắn có thông tin hạn chế. Bên cạnh đó, Kahneman và Tversky cho rằng lý thuyết tự nghiệm có thể dẫn đến lỗi hệ thống, thành kiến (Ritter, 2003). Đặc biệt khi sử dụng trực giác để đưa ra suy luận sẽ cho kết quả không phù hợp với các nguyên tắc xác suất và thống kê (Tversky và Kahneman, 1974).
Như kết luận của Otuteye và Siddiquee (2013) khi tìm hiểu về nguồn gốc của đầu tư giá trị nhận thức khi trong đầu tư, tác giả kết luận rằng chuẩn đoán dễ dẫn đến lệch lạc nhận thức. Lý thuyết tự nghiệm và các lệch lạc đôi khi khiến nhà đầu tư có xu hướng và hành vi không hợp lý, việc này có thể do hiểu biết hạn chế, khó khăn về nhận thức, tính phức tạp của vấn đề. Nghiên cứu của Gigerenzer và Gaissmaier (2011) cho thấy không có mối quan hệ giữa tính hợp lý và tự nghiệm khi những suy luận dựa trên kinh nghiệm.2 Thuyết hành vi theo đám đông Bikhchandani và Sharma (2001) cho rằng cá nhân được xem là có hành vi theo đám đông khi cá nhân đó không ra quyết định nếu biết các cá nhân khác không ra - 10- quyết định như vậy. Hành vi đám đông là một nhóm các nhà đầu tư giao dịch theo hướng như nhau, cùng ra quyết định mua hoặc bán trong cùng thời điểm.
Hay nói cách khác, hành vi theo đám đông là xu hướng cá nhân bắt chước những hành động của một nhóm lớn, cá nhân không quan trọng quyết định đó có phải xuất phát từ chính bản thân mình. Lý giải cho hành động này có 2 lý do: con người thường có xu hướng tìm kiếm sự chấp thuận của nhóm; con người nghĩ rằng quyết định của nhóm có quy mô lớn sẽ có xác suất sai nhỏ. Lý thuyết hành vi theo đám đông được hiểu theo hai quan điểm. Theo quan điểm không hợp lý, nhà đầu tư có xu hướng bỏ qua thông tin và phân tích của mình mà đi theo xu hướng của thị trường, ngay cả khi họ không đồng thuận với xu hướng đó (Christie và Huang, 1995).
Họ bỏ qua niềm tin của mình và sao chép một cách mù quáng quyết định của nhà đầu tư khác (Chang và cộng sự, 1999). Trái lại, theo quan điểm hợp lý thì hành vi theo đám đông xuất hiện khi nhà đầu tư, nhà quản lý (cấp thấp), bắt chước hành động của cấp cao hơn, bỏ qua thông tin của bản thân bởi vị họ tin rằng thông tin, quyết định của người khác tốt hơn nhằm bảo vệ danh tiếng (Devenow và Welch, 1996). Chính vì vậy mà nhà đầu tư hành động theo đám đông thường có quyết định lệch lạc và sai lầm. Có một số yếu tố tác động đến hành vi theo đám đông của nhà đầu tư như: quá tự tin, khối lượng đầu tư.
Nhà đầu tư tự tin chỉ dựa vào thông tin cá nhân của mình để ra quyết định đầu tư, họ hiếm khi căn cứ vào quyết định của nhà đầu tư khác. Khi nhà đầu tư đặt một lượng vốn lớn vào đầu tư của họ, họ có xu hướng làm theo hành động của những người khác để giảm thiểu rủi ro, ít nhất là trong cách mà họ cảm nhận. Bên cạnh đó, hành vi theo đám đông cũng phụ thuộc vào nhà đầu tư, ví dụ, các nhà đầu tư cá nhân có xu hướng làm theo đám đông trong việc đưa ra quyết định đầu tư nhiều hơn các nhà đầu tư tổ chức (Graham, 1999). Nội dung được trình bày ở phần trên cho thấy rằng lý thuyết tự nghiệm và các lệch lạc, lý thuyết hành vi theo đám đông có ảnh hưởng đến xu hướng mua cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân.
Lý thuyết tự nghiệm và các lệch lạc là lựa chọn tối ưu khi ra xu hướng dưới điều kiện không chắc chắn và phức tạp. Sự ra đời của lý thuyết tự - 11- nghiệm phần nào giúp nhà đầu tư ra quyết định dễ dàng hơn trong thị trường chứng khoán. Bên cạnh đó thì các lệch lạc và lỗi hệ thống có thể dẫn đến những thành kiến trong nhận thức của nhà đầu tư, làm cho sự việc bị bóp méo và cuối cùng là đưa ra những quyết định sai lầm. Lý thuyết thành vi theo đám đông là hành động không hợp lý, là tình trạng phổ biến xuất hiện ở các nhà đầu tư, việc này tạo thành hiệu ứng “bầy đàn”, gây ra thành kiến cảm xúc, xung đột về nhận thức, cổ phiếu không được phản ứng đúng với giá trị thực tế.
Trên nền tảng của 2 lý thuyết này, rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã được thực hiện. Một số nghiên cứu thực nghiệm tiêu biểu được xây dựng trên nền tảng của 2 lý thuyết trên sẽ được trình bày tóm tắt trong phần tiếp theo.3 Tóm tắt các nghiên cứu trước Nghiên cứu của Chandra (2008), tác giả tìm hiểu tác động của các yếu tố hành vi và tâm lý của nhà đầu tư khi ra quyết định, kiểm tra mối quan hệ giữa thái độ của nhà đầu tư đối với rủi ro và hành vi ra quyết định.