Chương 1: Cơ sở lý thuyết Chương 2: Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay Chương 3: Tác động của tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đến tăng trưởng kinh tế. Chương 4: Kết luận và các kiến nghị, giải pháp để hoàn thiện cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời gian sắp tới. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG NHTM VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ Việc nghiên cứu cơ sở lý thuyết về hệ thống ngân hàng thương mại, cấu trúc, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại và tác động của nó đến tăng trưởng kinh tế là hết sức cần thiết. Đây là nền tảng cho việc phân tích thực tiễn những vấn đề trên.
Định nghĩa về hệ thống Ngân hàng thƣơng mại 1. Định nghĩa Cho đến thời điểm hiện tại, có rất nhiều khái niệm về Ngân hàng thương mại (NHTM) do các nước và các tổ chức uy tín định nghĩa. Một số được phát biểu như sau: Theo quan điểm ở Mỹ: Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính. Theo Đạo luật của ngân hàng Pháp (1941): Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng và tài chính.
Theo pháp lệnh ngân hàng năm 1990 ở Việt Nam: Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ, mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng và có trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu, và làm phương tiện thanh toán. Nghị định 59/2009/NĐ-CP ngày 16/7/2009: Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các Tổ chức tín TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 dụng và các quy định khác của pháp luật. Còn theo luật các Tổ chức tín dụng năm 2011: Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận. Từ những nhận định trên có thể thấy, NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán.
Ngoài ra, NHTM còn cung cấp các dịch vụ khác nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội. Chức năng của NHTM Chức năng trung gian tín dụng Hệ thống NHTM làm cầu nối giữa người thừa vốn và người thiếu vốn, nó không chỉ đem lại lợi ích cho những người dư thừa vốn và những người thiếu vốn mà còn đem lại lợi ích kinh tế cho bản thân nó và nền kinh tế. Đối với ngân hàng, họ sẽ tìm được lợi nhuận cho bản thân mình từ chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi, hoặc hoa hồng môi giới. Đối với nền kinh tế, chức năng này có vai trò trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vì nó đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình sản xuất được thực hiện liên tục và để mở rộng quy mô sản xuất.
Với chức năng này, NHTM đã biến vốn nhàn rỗi không hoạt động thành vốn hoạt động, kích thích quá trình luân chuyển vốn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh. Đây là chức năng quan trọng nhất của ngân NHTM, nó quyết định sự duy trì và phát triển của Ngân hàng đồng thời là cơ sở để thực hiện các chức năng khác. Chức năng trung gian thanh toán Chức năng trung gian thanh toán có nghĩa là ngân hàng đứng ra thanh toán hộ cho khách hàng bằng cách chuyển tiền từ tài khoản này sang tài khoản khác theo yêu cầu của họ. Thông qua chức năng này, Ngân hàng đóng vai trò là người thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân bởi ngân hàng là người giữ tiền của khách hàng, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 chi tiền hộ cho khách hàng.
Nền kinh tế thị trường càng phát triển thì chức năng này càng mở rộng. Thông qua chức năng thanh toán này, hệ thống NHTM đã góp phần phát triển cho nền kinh tế. Khi khách hàng thực hiện thanh toán qua hệ thống ngân hàng sẽ làm giảm rủi ro, giảm chi phí thanh toán cho khách hàng đồng thời tốc độ luân chuyển vốn kinh doanh của khách hàng nhanh hơn, làm cho hiệu quả sử dụng vốn của khách hàng tăng. Đối với NHTM, chức năng này góp phần tăng lợi nhuận cho ngân hàng thông qua việc thu lệ phí thanh toán.
Hơn nữa, nó lại tăng nguồn vốn cho vay của ngân hàng thể hiện trên số dư có tài khoản của khách hàng. Chức năng này cũng chính là cơ sở để hình thành chức năng tạo tiền của hệ thống NHTM. Chức năng tạo tiền Đây là hệ quả của hai chức năng trên trong hoạt động của ngân hàng. Từ một số dự trữ ban đầu thông qua quá trình cho vay và thanh toán bằng chuyển khoản của Ngân hàng, lượng tiền gửi mới được tạo ra và nó lớn hơn so với lượng dự trữ ban đầu gấp nhiều lần.
Đó gọi là quá trình tạo tiền của hệ thống ngân hàng. Một ngân hàng sau khi nhận một món tiền gửi, trên tài khoản tiền gửi của khách hàng tại ngân hàng sẽ có số dư. Với số tiền này, sau khi đã để lại một khoản dự trữ bắt buộc, ngân hàng sẽ mang số dư đi đầu tư, cho vay từ đó sẽ chuyển sang vốn tiền gửi của ngân hàng khác. Với vòng quay của vốn thông qua chức năng tín dụng và thanh toán của ngân hàng, NHTM thực hiện được chức năng tạo tiền.
Vai trò của hệ thống NHTM Hệ thống NHTM đóng vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng kinh tế nước ta từ giai đoạn mở cửa đến nay. Một số vai trò của hệ thống NHTM Việt Nam như: Hệ thống NHTM là nơi cấp vốn cho nền kinh tế: Một nền kinh tế tăng trưởng cần lượng vốn lớn đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác. Qua thu hút được lượng vốn dư thừa từ dân cư và các tổ chức kinh tế, hệ thống NHTM đã kịp thời cung cấp vốn cho quá trình sản xuất, kinh doanh. Nhờ có TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 hoạt động của hệ thống NHTM và đặc biệt là hoạt động tín dụng, các doanh nghiệp, cá nhân có điều kiện mở rộng sản xuất, cải tiến máy móc, công nghệ để tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinh tế và chất lượng sản phẩm cho xã hội.
Hệ thống NHTM là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trƣờng: Các doanh nghiệp hiện nay muốn phát triển và mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh phần lớn đều nhờ vào hệ thống NHTM. Ngân hàng sẽ cung cấp tín dụng, các dịch vụ quản lý dòng tiền, dịch vụ thanh toán,. hoặc khi có dòng tiền nhàn rỗi thì gởi lại ngân hàng. Hệ thống NHTM là công cụ để NHNN điều hành chính sách tiền tệ: Hiện nay hệ thống NHTM không chỉ thực hiện chính sách kinh doanh của từng ngân hàng mà còn nhiệm vụ quan trọng là thực hiện các chính sách vĩ mô do NHNN đưa ra.
Các chính sách này rất quan trọng đối với cả nền kinh tế như chính sách tăng trưởng kinh tế, chính sách kiềm chế lạm phát, chính sách tỷ giá, lãi suất,. Do đó, thông qua hệ thống NHTM, NHNN điều hành chính sách kinh tế vĩ mô. NHNN điều tiết hệ thống NHTM, các NHTM dẫn dắt thị trường thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các NHTM trong hệ thống từ đó góp phần mở rộng khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông. Thông qua đó, NHTM cung ứng tín dụng cho các ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế.
Hệ thống NHTM thực hiện việc dẫn dắt các luồng tiền của thị trường và kiểm soát chúng một cách có hiệu quả. Hệ thống NHTM là cầu nối hệ thống tài chính quốc gia với hệ thống tài chính quốc tế: Ngày nay hội nhập kinh tế gắn liền với với tài chính hóa quốc tế, do đó sự phát triển kinh tế và hội nhập với nền kinh thế giới luôn gắn liền với hệ thống tài chính đất nước. Một trong các điều kiện quan trọng góp phần thúc đẩy sự hội nhập nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới đó là nền tài chính quốc gia, đặc biệt là hệ thống NHTM. Hệ thống NHTM là cửa ngõ giao thương kinh tế với thế giới như nghiệp vụ thanh toán quốc tế, ngoại hối, giao dịch tín dụng và nhiều nghiệp vụ chuyên sâu khác.
Các nghiệp vụ này của hệ thống NHTM trực tiếp hoặc TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 gián tiếp tác động đến hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu và thông qua đó NHTM đã thực hiện vai trò điều tiết tài chính trong nước phù hợp với sự vận động của nền tài chính quốc tế. Định nghĩa về tái cấu trúc hệ thống NHTM Theo định nghĩa của ngân hàng thế giới (1998): Tái cấu trúc ngân hàng bao gồm một loạt các biện pháp được phối hợp chặt chẽ nhằm duy trì hệ thống thanh toán quốc gia và khả năng tiếp cận các dịch vụ tín dụng, đồng thời xử lý các vấn đề còn tồn tại trong hệ thống tài chính là nguyên nhân gây ra khủng hoảng. Một định nghĩa khác, theo Claudia Dziobek và Celya Pazarbasioglu (Bài học từ tái cấu trúc ngân hàng, IMF-1997): Tái cấu trúc là biện pháp hướng tới mục tiêu nâng cao hiệu suất hoạt động của ngân hàng, bao gồm phục hồi khả năng thanh toán và khả năng sinh lời, cải thiện năng lực hoạt động của toàn hệ thống ngân hàng để làm tròn trách nhiệm của một trung gian tài chính và khôi phục lòng tin của công chúng. Theo quan điểm này thì tái cấu trúc ngân hàng bao gồm tái cấu trúc tài chính, tái cấu trúc hoạt động và giám sát an toàn.
Trong đó, tái cấu trúc tài chính hướng đến việc phục hồi khả năng thanh khoản bằng cách cải thiện bảng cân đối của các ngân hàng thông qua tăng vốn, giảm nợ, hoặc nâng giá trị tài sản. Tái cấu trúc hoạt động hướng tới mục tiêu nâng mức lợi nhuận bằng cách chú trọng hơn đến chiến lược hoạt động, cải thiện hiệu quả, năng lực quản lý và hệ thống kế toán, nâng cao năng lực thẩm định tín dụng.