Chương 1 giúp độc giả hiểu được khái quát của đề tài để dễ dàng tìm hiểu về nội dung chính ở những chương sau. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 CHƯƠNG 2 – TỔNG QUAN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ NGHIÊN CỨU ĐẾN RỦI RO TÍN DỤNG VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Lý thuyết nền của đề tài nghiên cứu 2.1 Các yếu tố nghiên cứu tác động đến rủi ro tín dụng 2.1 Khái niệm Các yếu tố nghiên cứu tác động đến rủi ro tín dụng bao gồm các yếu tố có sự tương tác với rủi ro tín dụng mà tác giả lựa chọn để nghiên cứu. Các yếu tố này phản ánh sức khỏe của hoạt động tín dụng tại các NHTM và luôn có sự tương tác lẫn nhau giữa các yếu tố. Các NHTM dựa vào việc đánh giá các chỉ số của các yếu tố để đưa ra biện pháp quản trị thích hợp cho hoạt động tín dụng.
Như vậy cho thấy rằng việc nghiên cứu các yếu tố này cực kỳ quan trọng đối với NHTM nói riêng và nền kinh tế tài chính nói chung.2 Các yếu tố nghiên cứu và ý nghĩa của các yếu tố này Có 4 yếu tố được tác giả nghiên cứu và sử dụng, và để biết rõ hơn về ý nghĩa của các yếu tố này thì các NHTM thường so sánh với chỉ số năm trước, chỉ số của những đối thủ cạnh tranh và với chỉ số của ngành 1. Tăng trưởng tín dụng: Tăng trưởng tín dụng là sự gia tăng giá trị khoản vay qua các năm, chỉ tiêu này dùng để so sánh sự tăng trưởng dư nợ tín dụng qua các năm, từ đó đánh giá khả năng cho vay, tìm kiếm khách hàng và đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch tín dụng của ngân hàng. Dư nợ tín dụng là yếu tố nền tảng khi nghiên cứu về rủi ro tín dụng, yếu tố này khác với yếu tố tăng trưởng tín dụng, nếu tăng trưởng tín dụng là một tỷ lệ liên quan đến dư nợ năm trước và năm hiện tại, thì tổng dư nợ tín dụng lại là một con số cụ thể, và muốn tính được tỷ lệ tăng trưởng tín dụng cần có dữ liệu về dư nợ tín dụng của một ngân hàng tại một thời điểm cụ thể. Tăng trưởng tín dụng tăng dần qua các năm thể hiện khả năng cho vay tốt của NHTM.
Cần so sánh giá trị này với đối thủ cạnh tranh để biết được năng lực cạnh tranh của NHTM trên thị trường như thế nào, từ đó các nhà hoạch định có thể đưa TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 chiến lược phát triển sản phẩm, thu hút khách hàng và đẩy mạnh cho vay và nâng cao nâng lực cạnh tranh. Quy mô ngân hàng Tổng tài sản sẽ đại diện cho quy mô của ngân hàng đó. Tổng tài sản càng lớn thể hiện quy mô ngân hàng đó càng lớn và ngược lại. Quy mô ngân hàng lớn tạo được lợi thế cạnh tranh trên thị trường và uy tín trong hệ thống NHTM.
Thông thường thì quy mô NHTM lớn sẽ có hệ thống điều hành tốt hơn và hoàn chỉnh hơn các NHTM nhỏ. Đồng thời, các NHTM có quy mô lớn thường sẽ có được những khoản đầu tư lớn và an toàn tạo ra được lợi nhuận cao và hiệu quả hoạt động tốt. Ngoài ra, các NHTM lớn cũng là những ngân hàng có thể cung cấp những khoản vay lớn cho những doanh nghiệp, tập đoàn lớn hay công ty nước ngoài, do đó nguy cơ tiềm ẩn nhiều rủi ro cho hoạt động tín dụng cũng cao hơn. Tỷ lệ chi phí hoạt động Yếu tố này phản ánh chi phí bỏ ra để thực hiện hoạt động tín dụng của NHTM không bao gồm chi phí cho việc chi trả lãi suất tiền gửi tiết kiệm.
Quản trị chi phí là việc đề ra các biện pháp sao cho chi phí hoạt động được sử dụng một cách hợp lý nhất và nhà quản trị của NHTM nếu thể hiện bản lĩnh quản trị tốt về chi phí hoạt động này thì sẽ quản lý tốt các hoạt động khác như là hoạt động tín dụng, hoạt động đầu tư và mang lại hiệu quả cao cho NHTM. Trong đó việc đánh giá được khách hàng là một trong những yêu tố quyết định đến tính hiệu quả của hoạt động tín dụng sẽ giúp giảm thiểu rủi ro tín dụng. Các NHTM có đội ngũ quản trị chi phí tốt thì có hiệu quả hoạt động cao và có mức rủi ro tín dụng thấp hơn những ngân hàng khác. Ngân hàng hoạt động thiếu hiệu quả thì hoạt động tín dụng sẽ chịu nhiều ảnh hưởng dẫn đến rủi ro tín dụng ở mức cao.
Tỷ lệ lợi nhuận thuần trước chi phí dự phòng Việc trích lập dự phòng rủi ro tín dụng sẽ được tính vào chi phí thuế do đó các NHTM cũng sử dụng chi phí này như một công cụ để trốn thuế và che đậy lợi nhuận. Các nhà quản lý thường điều chỉnh cho chi phí dự phòng tăng lên vào thời điểm NHTM hoạt động kinh doanh tốt nhằm mục đích giảm thuế thu nhập phải nộp và TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 chuyển sang các năm có tình trạng kinh doanh khó khăn hơn. Như vậy để nghiên cứu được chính xác về chỉ tiêu phản ánh lợi nhuận của NHTM trong hoạt động tín dụng thì tác giả sẽ lấy chỉ tiêu lợi nhuận trước khi trừ đi chi phí dự phòng rủi ro tín dụng. Chi phí dự phòng càng lớn thì tỷ lệ lợi nhuận này sẽ càng nhỏ, mà chi phí dự phòng càng lớn tức là rủi ro tín dụng càng cao, như vậy tỷ lệ này với rủi ro tín dụng được kỳ vọng sẽ có mối quan hệ nghịch chiều.2 Rủi ro tín dụng của NHTM 2.1 Khái niệm Căn cứ vào khoản 01 Điều 03 của Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/1/2013 quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.” Theo CFI (2016) định nghĩa rủi ro tín dụng là rủi ro mà người đi vay không đáp ứng được các điều khoản của hợp đồng cho vay của họ.
Theo quan điểm của tác giả: Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng.2 Các chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng Theo điều 03 khoản 03 thông tư 02/2013/TT-NHNN thì:“Dự phòng rủi ro là số tiền được trích lập và hạch toán vào chi phí hoạt động để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Dự phòng rủi ro gồm dự phòng cụ thể và dự phòng chung” Các NHTM sẽ sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý rủi ro tín dụng như vậy cũng có thể thấy rằng mối liên hệ chặt chẽ giữa dự phòng rủi ro và rủi ro tín dụng. Hay nói cụ thể hơn các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đều lấy dự phòng rủi ro như là một đại lượng đại điện đo lường cho rủi ro tín dụng. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Theo như bài nghiên cứu của Foos (2010) tác giả sử dụng chỉ tiêu CRR do lường về rủi ro tin dụng.
Công thức được tính như sau: 𝐺í𝑎 𝑡𝑟ị 𝑡𝑟í𝑐ℎ 𝑙ậ𝑝 𝑑ự 𝑝ℎò𝑛𝑔 𝑛ă𝑚 ℎ𝑖ệ𝑛 𝑡ạ𝑖 𝐶𝑅𝑅 = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑑ư 𝑛ợ 𝑛ă𝑚 𝑡𝑟ướ𝑐 Đồng thời hai tác giả Nguyễn Minh Kiều và Nguyễn Thị Ngọc Diệp (2015) cũng sử dụng chỉ tiêu này đề do lường mức độ rủi ro tín dụng. Tác giả Nguyễn Văn Thuận và Dương Hồng Ngọc (2015) sử dụng LLP trong bài nghiên cứu của mình với cách tính như sau: 𝐶ℎ𝑖 𝑝ℎí 𝑑ự 𝑝ℎò𝑛𝑔 𝑟ủ𝑖 𝑟𝑜 𝑡í𝑛 𝑑ụ𝑛𝑔 𝐿𝐿𝑃 = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑑ư 𝑛ợ 𝑐ℎ𝑜 𝑣𝑎𝑦 Ngoài ra còn một số chỉ tiêu khác được sử dụng trong thực tế nhưng ít được dùng trong thực hiện nghiên cứu đó là: - Chỉ tiêu xác suất rủi ro - Chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn/Tổng dư nợ - Chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn và gia hạn/Tổng dư ợ - Tỷ lệ nợ quá hạn và gia hạn so với tổng tài sản - Tỷ lệ nợ xấu/Tổng dư nợ - Tỷ lệ rủi ro theo thời gian - Tỷ lệ tổng lãi treo phát sinh so với thu nhập từ cho vay - Tỷ lệ miễn, giảm lãi so với thu nhập từ cho vay 2.3 Nguyên nhân của rủi ro tín dụng Thứ nhất, nguyên nhân thuộc về năng lực quản trị của ngân hàng: Các NHTM Việt Nam còn thiếu một chính sách tín dụng nhất quán, chính sách tín dụng ở đây phải bao gồm định hướng chung cho việc cho vay, chế độ tín dụng ngắn hạn, trung và dài hạn, các quy định về bảo đảm tiền vay, danh mục lựa chọn khách hàng trong từng giai đoạn. Ví dụ : Chính sách cho vay liều lĩnh, cụ thể trong cho vay ngân hàng tập trung nguồn vốn quá nhiều vào một doanh nghiệp hoặc một ngành kinh tế nào đó. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 Thực hiện không tốt quy trình cấp tín dụng.
Sự lơi lỏng trong quá trình giám sát trong và sau khi cho vay nên không phát hiện kịp thời hiện tượng sử dụng vốn sai mục đích. Ngân hàng không có đủ thông tin về các số liệu thống kê, chỉ tiêu để phân tích, đánh giá khách hàng dẫn đến xác định sai hiệu quả của phương án xin vay, hoặc xác định thời hạn cho vay và trả nợ không phù hợp với phương án kinh doanh. Quá tin tưởng vào tài sản thế chấp, bảo lãnh, bảo hiểm, coi đó là vật đảm bảo chắc chắn cho sự thu hồi cả gốc và lãi tiền vay. + Ngân hàng thiếu một bộ phận chuyên trách theo dõi, quản lý rủi ro, quản lý hạn mức tín dụng tối đa cho từng khách hàng thuộc từng ngành nghề, sản phẩm địa phương khác nhau để phân tán rủi ro, các dự báo cần thiết trong từng thời kỳ.
+ Năng lực và phẩm chất đạo đức của một số nhân viên ngân hàng chưa đáp ứng đủ yêu cầu và vấn đề quản lý sử dụng, đãi ngộ cán bộ ngân hàng chưa thỏa đáng. + Cạnh tranh giữa các TCTD chưa thực sự lành mạnh, việc chạy theo quy mô, bỏ qua các tiêu chuẩn, điều kiện trong cho vay, thiếu quan tâm đến chất lượng khoản vay.