Chương 1 đã giới thiệu về đề tài nghiên cứu. Sau khi xác định vấn đề nghiên cứu, tác giả đưa ra mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu để giải quyết vấn đề nghiên cứu. Chương này giới thiệu sơ lược đối tượng, phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Những phần này sẽ trình bày chi tiết trong Chương 3.
Ngoài ra, tác giả đưa ra ý nghĩa khoa học của nghiên cứu ở hai khía cạnh: khoa học và thực tiễn. Cuối cùng, tác giả đưa ra kết cấu của luận văn. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Giới thiệu chương Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết của vấn đề nghiên cứu: lý thuyết liên quan đến thu nhập của NHTM, các thành phần của thu nhập ngoài lãi, lợi nhuận và lợi nhuận điều chỉnh rủi ro của NHTM. Ngoài ra, trong chương này, tác giả sẽ giới thiệu sơ lược các nghiên cứu trong và ngoài nước.1Một số khái niệm cơ bản 2.1 Thu nhập của NHTM Nguồn thu nhập của NHTM rất đa dạng từ những hoạt động kinh doanh chính cho đến những hoạt động kinh doanh sinh lời khác được pháp luật từng quốc gia cho phép.
Vì vậy, dựa theo đặc điểm kinh doanh có thể chia nguồn thu nhập của NHTM thành hai thành phần: thu nhập lãi và thu nhập ngoài lãi.1 Thu nhập lãi Hoạt động kinh doanh chính của ngân hàng từ thời xa xưa đến nay là cho vay. Cho vay đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra thu nhập của ngân hàng. Nguồn thu từ hoạt động cho vay được gọi là thu nhập lãi - luôn chiếm tỷ lệ cao trong mọi ngân hàng. Thu nhập lãi thuần là chênh lệch giữa nguồn thu từ hoạt động cho vay và nguồn chi của hoạt động huy động vốn.
Nói cách khác, khoảng cách giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động vốn là thu nhập lãi thuần (Hoàng Ngọc Tuyến và Võ Thị Hiền (2010)). Nó phụ thuộc vào chính sách điều hành lãi suất của từng ngân hàng. Thu nhập lãi phụ thuộc vào lãi suất cho vay, dư nợ khoản vay và khả năng hợp tác trả nợ của khách hàng. Nguồn thu nhập này tuy đóng vai trò chủ đạo trong hoạt động ngân hàng nhưng nó tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Bởi lẽ, những khoản vay phụ thuộc vào tình hình kinh tế của khách hàng dẫn đến mức độ hợp tác trả nợ của khách TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Bên cạnh đó, những yếu tố khác như điều kiện kinh tế, sự hưng thịnh của ngành nghề kinh doanh, … cũng là những yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập lãi.2 Thu nhập ngoài lãi Từ cuộc khủng hoảng bong bóng nhà đất tại Mỹ và sự lan tràn của nó đòi hỏi nhiều nhà quản lý phải tìm lối đi mới cho ngành tài chính ngân hàng. Từ báo cáo tài chính có thể thấy được bên cạnh hoạt động cho vay thì hoạt động dịch vụ, đầu tư, kinh doanh khác cũng mang lại nguồn thu ổn định và an toàn (Klein và Saidenberg (1997)). Do đó, đa dạng hóa thu nhập đang được các ngân hàng quan tâm nhằm mục đích phân tán rủi ro (Hoàng Ngọc Tuyến và Võ Thị Hiền (2010)) và giảm sự lệ thuộc vào nguồn thu nhập chính.
Nguồn thu của các hoạt động khác ngoài hoạt động cho vay được gọi là thu nhập ngoài lãi. Sự chênh lệch giữa thu nhập ngoài lãi và chi phí bỏ ra để cung cấp sản phẩm, dịch vụ được gọi là thu nhập thuần ngoài lãi ((Hoàng Ngọc Tuyến và Võ Thị Hiền (2010)). Từ các báo cáo thường niên của các ngân hàng, nguồn thu nhập ngoài lãi bao gồm: thu nhập từ hoạt động dịch vụ, thu nhập từ hoạt động kinh doanh đầu tư, thu nhập hoạt đông ngoài lãi khác. Trong số các nguồn thu nhập ngoài lãi thì nguồn thu từ hoạt động dịch vụ ngày càng nổi bật.
Những hoạt động dịch vụ thanh toán, môi giới, tư vấn dịch vụ, bảo hiểm, hoạt động bảo lãnh, thư tín dụng, ủy thác và trung gian ngân quỹ, viễn thông,… này ngày càng đóng vai trò quan trọng khi nhu cầu của khách hàng càng cao và đa dạng. Chẳng hạn, sự phát triển mạnh của dịch vụ ngân hàng bán lẻ hiện nay là minh chứng cụ thể nhất trong việc đáp ứng thị hiếu của khách hàng. Mức độ tiện ích, tính năng sản phẩm, mức phí dịch vụ lúc này sẽ được cân nhắc ở từng sản phẩm, dịch vụ bán lẻ của mọi ngân hàng. Kết quả là các NHTM hiện này đều đẩy mạnh công nghệ để cải thiện chất lượng sản phẩm dịch vụ, cung cấp những sản phẩm mới để gia tăng tính cạnh tranh, nguồn thu phí dịch vụ.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Bên cạnh đó, hoạt động kinh doanh đầu tư ngoại tệ, chứng khoán kinh doanh, chứng khoán đầu tư, góp vốn/ mua cổ phần cũng mang lại nguồn thu cho ngân hàng. Tuy nhiên, nó phụ thuộc vào yếu tố khách quan và chủ quan. Những yếu tố khách quan như là điều kiện kinh tế vĩ mô, sự phát triển của lĩnh vực đầu tư, chính trị- xã hội; yếu tố chủ quan là quyết định đầu tư, định hướng kinh doanh,…. Khi những yếu tố này có sự thay đổi đều ảnh hưởng đến lãi/lỗ của mảng kinh doanh này của ngân hàng.
Hoạt động kinh doanh ngoài lãi khác là những hoạt động không thường xuyên như mua bán tài sản nợ, thanh lý tài sản,… Những hoạt động này thường diễn ra rất lâu và số lượng không nhiều. Tài sản kinh doanh của hoạt động này thường là những tài sản thế chấp bảo đảm của những khoản vay đã mất khả năng thanh toán.2 Lợi nhuận của NHTM Lợi nhuận của ngân hàng đến từ các mảng kinh doanh của NHTM. Lợi nhuận là phần chênh lệch giữa tổng thu nhập và tổng chi phí. Đây là cách đánh giá trực tiếp được sử dụng trong bảng cân đối kế toán nhằm cho nhà đầu tư, khách hàng dễ dàng biết được hoạt động của ngân hàng qua 1 năm như thế nào.
Ngoài ra, các nhà kinh tế cũng sử dụng lợi nhuận và các yếu tố cấu tạo nên tài sản, vốn chủ sở hữu để đo lường khả năng có lời của một doanh nghiệp và ngân hàng cũng không ngoại lệ. Trong những chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lời của ngân hàng thì tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lợi trên tổng vốn chủ sở hữu (ROE) là hai chỉ tiêu quan trọng đánh giá hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Nhiều nhà kinh tế phân tích chi tiết hai chỉ tiêu này để đưa ra mô hình đo lường lợi nhuận. Từ đó, sử dụng để kiểm soát chi phí, quản lý tốt danh mục đầu tư, kiểm soát rủi ro, sử dụng đòn bẩy tài chính và đòn bẩy hoạt động một cách thận trọng.
Hai chỉ tiêu này được tính toán như sau: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑠𝑎𝑢 𝑡ℎ𝑢ế 𝑅𝑂𝐴 = × 100% 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 ROA phản ánh khả năng quản lý và sử dụng tài sản của doanh nghiệp hay được hiểu là lợi nhuận thu về trên mức độ đầu tư tài sản. Tỷ số này lớn hơn 0, doanh nghiệp kinh doanh có lãi và ngược lại. Tỷ số càng cao thì hiệu quả kinh doanh càng cao 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑠𝑎𝑢 𝑡ℎ𝑢ế 𝑅𝑂𝐸 = × 100% 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑣ố𝑛 𝑐ℎủ 𝑠ở ℎữ𝑢 ROE phản ánh khả năng quản lý và sử dụng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp hay được hiểu là lợi nhuận thu về trên một đồng vốn bỏ ra. Tỷ số này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng hiệu quả vốn chủ sở hữu.3 Lợi nhuận điều chỉnh rủi ro Khi xem xét đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của một ngân hàng thì lợi nhuận và rủi ro là hai yếu tố được quan tâm.
Rủi ro là yếu tố không lường trước gây ra tổn thất và có thể đo lường được dựa vào mức độ và tần suất. Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, tín dụng mang lại nguồn thu lãi lớn nhưng vẫn mang đến rủi ro. Tương tự, những hoạt đông kinh doanh khác ngoài tín dụng đóng vai trò ngày càng lớn trong cơ cấu nguồn thu nhập của ngân hàng nhưng vẫn tiềm ẩn rủi ro. Chẳng hạn, những hoạt động dịch vụ được khách hàng sử dụng dựa vào sự yêu thích, tiện lợi, tính năng luôn được nâng cấp.
Nếu ngân hàng bạn cũng cung cấp sản phẩm, dịch vụ có tính năng tương tự và mức phí rẻ hơn thì khách hàng thường có xu hướng chuyển sang những sản phẩm tốt hơn. Những hoạt động đầu tư góp cổ phẩn, chứng khoán, ngoại tệ luôn chịu ảnh hưởng của yếu tố khách quan và chủ quan nên nguồn thu nhập biến động khi rủi ro xảy ra. Những hoạt động ngoài lãi khác như thanh lý và mua bán tài sản nợ thường xảy ra rất lâu. Chính vì vậy, xem xét yếu tố rủi ro và lợi nhuận cùng một lúc là đều cần thiết.
Nghiên cứu của Stiroh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 KJ (2004) đã sử dụng sự chênh lệch giữa lợi nhuận thực tế và lợi nhuận kỳ vọng (lợi nhuận kỳ vọng chính là độ lệch chuẩn của chỉ số ROA, ROE) để đo lường rủi ro của ngân hàng. Đây chính là hệ số lợi nhuận điều chỉnh rủi ro. Hệ số này có công thức như sau: - Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản được điều chỉnh rủi ro 𝑅𝑂𝐴 𝑆𝐻𝑅𝑂𝐴 = 𝜎𝑅𝑂𝐴 - Tỷ suất sinh lợi trên tổng vốn chủ sở hữu được điều chỉnh rủi ro 𝑅𝑂𝐸 𝑆𝐻𝑅𝑂𝐸 = 𝜎𝑅𝑂𝐸 1 Trong đó: 𝜎 = √ × ∑𝑁 2 𝑡=1(𝑥𝑡 − 𝜇). 𝑥𝑡 là giá trị ROA, ROE năm thứ t; 𝜇 là 𝑁−1 giá trị trung bình của ROA, ROE; N là số năm.2 Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm nước ngoài và trong nước Hoạt động đa dạng hóa của ngân hàng theo Mercieca et al (2007) được chia làm 3 dạng: đa dạng hóa các sản phẩm tài chính, đa dạng hóa địa lý, kết hợp đa dang hóa kinh doanh và địa lý.
Trong đó, đa dạng hóa các sản phẩm tài chính là nguồn chính tạo ra thu nhập ngoài lãi của ngân hàng thương mại. Đa dạng thu nhập ngoài lãi được hiểu là gia tăng thu phí từ các dịch vụ và sản phẩm tài chính mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng. Nhu cầu về các dịch vụ hiện đại trong xu thế công nghệ phát triển nhanh như hiện này của khách hàng ngày càng gia tăng. Do đó, việc cung cấp sản phẩm dịch vụ hiện đại mang lại mức độ thỏa mãn cao là xu thế tất yếu không thể phủ nhận trong nhiều lĩnh vực, ngay cả lĩnh vực tài chính, ngân hàng.
Tận dụng được cơ hội này, ngân hàng sẽ gia tăng được khoản thu nhập về phí dịch vụ, hoa hồng góp phần tăng lợi nhuận, giảm sự phụ thuộc vào hoạt động kinh doanh chính. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.