Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý luận về sở hữu nước ngoài và hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Chương 3: Thực trạng về tác động của sở hữu nước ngoài đến hiệu quả hoạt động của các NHTMCP Việt Nam Chương 4: Phân tích và kết quả tác động của sở hữu nước ngoài đến hiệu quả hoạt động của các NHTMCP Việt Nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Chương 5: Giải pháp và khuyến nghị góp phần vận dụng tác động của sở hữu nước ngoài nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các NHTMCP Việt Nam. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỞ HỮU NƯỚC NGOÀI VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Sở hữu nước ngoài Để xem xét phản ứng của các ngân hàng nội địa Philipin trước sự nới lỏng quy định đối với sở hữu nước ngoài trong lĩnh vực ngân hàng đang diễn ra ở nước này hai tác giả Unite và Sullivan (2003) đã thực hiện nghiên cứu “Ảnh hưởng của sự thâm nhập nước ngoài và cấu trúc sở hữu đối với thị trường ngân hàng nội địa của Philipin”. Hai vấn đề chính được đặt ra trong nghiên cứu này là: Thứ nhất, có hay không sự gia tăng thâm nhập của các ngân hàng nước ngoài làm tăng cạnh tranh và các ngân hàng trong nước sẽ hành động để hoạt động hiệu quả hơn; Thứ hai, sự thay đổi về mức sở hữu nước ngoài ảnh hưởng đến ngân hàng trong nước như thế nào.
Như vậy, các tác giả này đã xem xét sở hữu nước ngoài ở hai khía cạnh: số lượng ngân hàng có vốn nước ngoài và tỷ lệ số cổ phần được nắm giữ bởi cổ đông nước ngoài trong một ngân hàng. Và để đánh giá ảnh hưởng của sở hữu nước ngoài đối với các ngân hàng trong nước, tác giả đã sử dụng hai biến: - Biến FOR#: Là tỷ lệ phần trăm của số lượng các ngân hàng có sở hữu nước ngoài trên tổng số các ngân hàng thương mại lớn của nước này (dữ liệu tổng cộng gồm 16 ngân hàng, các ngân hàng này nắm giữ gần như 70% tổng tài sản của toàn bộ ngành ngân hàng). Các ngân hàng nước ngoài được thúc đẩy bởi lợi nhuận cao hơn khi thâm nhập thị trường, với biến FOR# tác giả phỏng đoán rằng ngân hàng nội địa sẽ phản ứng lại trước sự thâm nhập của ngân hàng nước ngoài bằng cách nỗ lực để cạnh tranh hiệu quả nhằm chống lại sự thâm nhập mới vào thị trường và để giữ thị phần. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 - Biến FOR%: Là tỷ lệ phần trăm sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong một ngân hàng nội địa.
Mức độ sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài có thể biểu thị cho sự hiệu quả và sự mở cửa của một thị trường. Một sự gia tăng trong sở hữu nước ngoài được cho rằng để tăng cường hoạt động điều hành bên ngoài và thu được kết quả trong việc cải tiến ngân hàng. Dữ liệu mà tác giả thu thập được đã cho thấy sở hữu nước ngoài trong các ngân hàng thương mại nội địa gia tăng đáng kể từ bình quân 8. Claessens et al (2001) thì định nghĩa một ngân hàng được cho là ngân hàng nước ngoài khi ngân hàng đó có ít nhất 50% cổ phần thuộc sở hữu nước ngoài và họ đã đo lường sự thâm nhập của ngân hàng nước ngoài theo hai cách, đó là: tỷ lệ phần trăm của số lượng ngân hàng có sở hữu nước ngoài trên tổng số ngân hàng và tỷ lệ phần trăm tài sản thuộc sở hữu của ngân hàng nước ngoài trên tổng tài sản của ngân hàng.
Cùng chủ đề này, Shen, Lu và Wu (2009) trong nghiên cứu “Tác động của sự thâm nhập ngân hàng nước ngoài đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng Trung Quốc” đã định nghĩa sở hữu nước ngoài theo hai hình thức sau: Đối với cấp độ quốc gia: Sở hữu nước ngoài là tỷ lệ phần trăm của số lượng các ngân hàng trong nước có sự tham gia của cổ đông nước ngoài trên tổng số các ngân hàng trong một nước. Tỷ lệ này được tác giả gọi là MacroFP. Đối với cấp độ ngân hàng: Sở hữu nước ngoài là tỷ lệ phần trăm cổ phần được nắm giữa bởi nhà đầu tư nước ngoài tham gia góp vốn vào một ngân hàng. Tỷ lệ này được tác giả gọi là MicroFP.
Tác giả Xu (2011) của bài nghiên cứu “Hướng đến một sự đo lượng chính xác hơn mức độ thâm nhập của ngân hàng nước ngoài và tác động của nó đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng nội đia: một trường hợp của Trung Quốc” đã xây dựng được một chỉ số để đo lường mức độ của sự hiện diện nước ngoài ở cấp độ ngân hàng FEI (foreign exposure index) đó là: Bài nghiên cứu sử dụng số lượng chi nhánh ngân TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 hàng nước ngoài hoạt động trong cùng một thành phố với ngân hàng Trung Quốc để xác định mức độ của sự hiện diện nước ngoài cho ngân hàng. Hay nói cách khác, càng có nhiều chi nhánh ngân hàng nước ngoài trong một thành phố nơi mà ngân hàng Trung Quốc hiện diện thì chỉ số FEI càng lớn và mức độ ảnh hưởng của nước ngoài càng lớn. Tóm lại, sở hữu nước ngoài mà các tác giả kể trên nói đến chính là sự tham gia góp vốn của cổ đông nước ngoài trong các ngân hàng. Hai vấn đề được quan tâm chủ yếu trong các nghiên cứu đó là: số lượng ngân hàng có sở hữu nước ngoài và phần trăm cổ phần được nắm giữ bởi cổ đông nước ngoài trong một ngân hàng.
Để đánh giá tác động của sở hữu nước ngoài đến hiệu quả hoạt động của các NHTMCP Việt Nam, bài luận văn đã tiếp thu kết quả nghiên cứu của hai tác giả Unite và Sullivan (2003) để định nghĩa sở hữu nước ngoài bằng hai biến: biến thứ nhất FORC đại diện cho tỷ lệ phần trăm số lượng các ngân hàng có sở hữu nước ngoài trong tổng số các NHTMCP nghiên cứu và biến thứ hai FORR đại diện cho tỷ lệ phần trăm sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong tổng số cổ phần của một NHTMCP. Hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Hiệu quả hoạt động ngân hàng là việc ngân hàng đó thõa mãn nhu cầu của các cổ đông (chủ sở hữu), nhân viên, người gửi tiền và các chủ nợ khác, người vay tiền và các khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng khác. Bên cạnh đó, ngân hàng phải tìm cách làm cho Nhà nước hài lòng rằng các chính sách hoạt động của họ, các khoản vay, khoản đầu tư là tốt và vì lợi ích cộng đồng (Rose and Hudgins, 2008, p. Như vậy, hiệu quả hoạt động ngân hàng chung quy lại sẽ bao gồm những vấn đề chủ yếu như là: khả năng sinh lời, việc giảm thiểu chi phí và hoạt động an toàn vì chính những điều này sẽ giúp ngân hàng làm thỏa mãn các đối tượng nêu trên.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Theo nghiên cứu của ECB (2010), hiệu quả hoạt động ngân hàng được xem xét dựa trên khả năng tạo ra lợi nhuận. Khả năng sinh lợi chính là sự phòng thủ đầu tiên của một ngân hàng nhằm chống lại những tổn thất không kỳ vọng trước trong quá trình củng cố nguồn vốn tự có và tăng cường khả năng tạo ra lợi nhuận trong tương lai. Mặc dù hoạt động ngân hàng ngày càng trở nên phức tạp hơn nhưng chung quy lại nó bao gồm 4 vấn đề chủ yếu: thu nhập, hiệu quả, rủi ro và đòn bẩy. Cụ thể là: trong khi rất rõ ràng để thấy rằng một ngân hàng phải có khả năng tạo ra “thu nhập” thì thành phần và mức độ biến động của thu nhập này cũng rất quan trọng.
“Hiệu quả” ở đây được đề cập đến là khả năng tạo ra thu nhập trên tài sản hiện có. “Rủi ro” được phản ánh là mức độ rủi ro mà một ngân hàng có thể chấp nhận để tạo ra thu nhập. “Đòn bẩy” có thể khuếch đại kết quả kinh doanh theo chiều hướng tốt lên nếu hoạt động kinh doanh thuận lợi nhưng ngược lại nó cũng có thể dẫn đến sự thất bại của một ngân hàng (ECB, 2010). Trong rất nhiều phương pháp được dùng để đo lường, đánh giá cũng như phân tích về hiệu quả hoạt động của ngân hàng, có thể chia thành 3 phương pháp: phương pháp đo lường theo cách truyền thống, phương pháp đo lường hiệu quả kinh tế và phương pháp đo lường hiệu quả dựa vào thị trường (ECB, 2010).
Phương pháp đo lường theo cách truyền thống Phương pháp đo lường hiệu quả hoạt động truyền thống trong lĩnh vực ngân hàng cũng tương tự như các ngành công nghiệp khác, các chỉ số tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) hay tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR) được sử dụng rộng rãi nhất. Ngoài ra, hệ số trung gian thu nhập từ lãi biên (NIM) cũng được sử dụng. - Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) là tỷ lệ giữa lợi nhuận ròng trong năm chia cho tổng tài sản bình quân, dùng để đo lường khả năng sinh lời trên một đơn vị vốn đầu tư vào công ty: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Lợi nhuận ròng ROA = (2.1) Tổng tài sản ROA cho thấy tính hiệu quả trong quản lý. Tỷ lệ này thấp thường phản ánh sự không hiệu quả trong đầu tư, cho vay, kiểm soát chi phí của ngân hàng và ngược lại.
- Tỷ suất sinh lợi trên vốn sở hữu (ROE) là tỷ lệ giữa lợi nhuận ròng trong năm chia cho bình quân vốn chủ sở hữu, đây là một chỉ tiêu mà nhà đầu tư rất quan tâm vì nó cho thấy khả năng tạo lãi của một đơn vị vốn họ bỏ ra để đầu tư vào công ty: Lợi nhuận ròng ROE = (2.2) Vốn cổ phần ROE phản ánh tính hiệu quả trong việc sử dụng vốn chủ sở hữu bởi vì: (i) nó cho thấy một cách trực tiếp khả năng tạo lãi trên một đồng vốn đầu tư của các cổ đông; (ii) các nhà phân tích thường sẽ dễ dàng thu thập số liệu liên quan đến hệ số này do tính sẵn có của nó trên các phương tiện thông tin đại chúng; (iii) nó cho thấy sự so sánh giữa các công ty khác nhau và các ngành khác nhau trong nền kinh tế. Bên cạnh đó, hai chỉ tiêu ROA và ROE còn cho thấy sự đánh đổi giữa rủi ro và thu nhập: một ngân hàng có thể có tỷ lệ ROA thấp nhưng vẫn đạt được ROE cao do có sử dụng đòn bẩy tài chính lớn.