Chương 1: Giới thiệu đề tài. Chương này trình bày lí do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và bố cục của đề tài. - Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản và tác động của hai loại rủi ro này đến sự ổn định của ngân hàng. - Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.
Chương này trình bày chi tiết về mô hình nghiên cứu, các biến trong mô hình, cách thu thập dữ liệu cũng như các bước thực hiện mô hình. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 - Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Chương này sẽ trình bày và thảo luận kết quả nghiên cứu về mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản và tác động của hai loại rủi ro này đến sự ổn định của ngân hàng. - Chương 5: Kết luận và hạn chế của nghiên cứu.
Chương này trình bày những đóng góp của nghiên cứu, hướng nghiên cứu tiếp theo và các hạn chế của nghiên cứu. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT CÁC NGHIÊN CỨU VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA RỦI RO TÍN DỤNG VÀ RỦI RO THANH KHOẢN VÀ TÁC ĐỘNG CỦA HAI LOẠI RỦI RO NÀY ĐẾN SỰ ỔN ĐỊNH CỦA NGÂN HÀNG.1 Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng Tính thanh khoản của ngân hàng thương mại được xem như khả năng đáp ứng tức thời nhu cầu rút tiền gửi và giải ngân các khoản tín dụng đã cam kết. Như vậy, rủi ro thanh khoản (RRTK) là loại rủi ro khi ngân hàng không có khả năng cung ứng đầy đủ lượng tiền mặt cho nhu cầu thanh khoản tức thời; hoặc cung ứng đủ nhưng với chi phí cao. Nói cách khác, đây là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàng thiếu khả năng chi trả do không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền mặt hoặc không thể vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán.
Tình trạng này nhẹ thì gây thua lỗ, hoạt động kinh doanh bị đình trệ, nặng thì làm mất khả năng thanh toán dẫn đến ngân hàng phá sản. Hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản của ngân hàng, đem lại nguồn thu chủ yếu của các ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, vấn đề mà các ngân hàng thương mại đang phải đối mặt là rủi ro tín dụng. Rủi ro tín dụng (RRTD) là rủi ro phát sinh do khách hàng vay không thực hiện đúng các điều khoản của hợp đồng tín dụng, với biểu hiện cụ thể là khách hàng chậm trả nợ, trả nợ không đầy đủ hoặc không trả nợ khi đến hạn các khoản gốc và lãi vay, gây ra những tổn thất về tài chính và khó khăn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại (NHTM).
Rủi ro tín dụng, theo định nghĩa bởi Hiệp ước Basel ra đời năm 2010 và Rose (2002), là khả năng mà ngân hàng sẽ mất một phần hoặc toàn bộ khoản vay từ những sự kiện đe dọa khả năng thanh toán của khách hàng. Các sự kiện không mong muốn này bao gồm phá sản của khách hàng hoặc sự cố tình từ chối thanh toán khoản nợ của khách hàng. Theo Thông tư số 02/2013/TT-NHNN liên quan đến việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết. Như vậy, dù cách thể hiện khác nhau nhưng các khái niệm về rủi ro tín TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 dụng được đưa ra đều hội tụ chung ở một điểm là rủi ro tín dụng chính là tổn thất mà ngân hàng có thể gặp phải từ sự không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán của khách hàng.
Từ những lý thuyết kinh tế vi mô cổ điển mô hình tổ chức công nghiệp của ngân hàng, như nghiên cứu mô hình Monti-Klein của Monti (1971) và Klein(1971) cho thấy mối quan hệ giữa huy động và tín dụng thông qua mô hình tính toán lợi nhuận của ngân hàng, các ngân hàng định có thể tối đa hóa lợi hiện tại bằng cách thiết lập mức lãi suất trên thị trường cho vay và huy động, đồng thời ngân hàng có thể tối đa hóa lợi nhuận bằng việc đa dạng hóa, giảm thiểu rủi ro tín dụng và thanh khoản. Mô hình cụ thể: 𝐦𝐚𝐱 𝝅 = 𝒓𝑳 𝑳 + 𝒓𝑴 + 𝒓𝑩 𝑩 + 𝒓𝑹𝟐 𝑹𝟐 − 𝒓𝑫 𝑫 − 𝑪(𝑫, 𝑳) Trong đó L + M + R1 + R2 +B = D + K Trong đó: L và D thể hiện cho khoản cho vay và huy động M: mức tiền giao dịch trên thị trường liên ngân hàng R1: dự trữ cấp 1 R2: dự trữ cấp 2 K: nguồn vốn chủ sở hữu B: trái phiếu chính phủ 𝑟𝐿 , 𝑟𝐷 , 𝑟𝑀 , 𝑟𝑅2 , 𝑟𝑩 là mức lãi suất của L, D, M, 𝑅2 , B C(D,L) : hàm chi phí quản lý phục vụ cho việc huy động và cho vay Trong mô hình này cho thấy rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản tác động trực tiếp đến việc tối ưu hóa lợi nhuận của ngân hàng. Huy động và cho vay là hai hoạt động chính của ngân hàng có liên quan mật thiết với nhau. Ngân hàng dùng các khoản tiền huy động từ khách hàng để tiến hành cho vay bằng việc thiết lập mức lãi suất huy động và cho vay để tối đa hóa lợi nhuận của ngân hàng.
Để đảm bảo rủi ro thanh khoản, ngân hàng luôn phải trích một phần dự trữ bắt buộc (R1) và dự trữ bổ sung (R2) để đảm bảo khả năng thanh toán tức thời cho khách hàng. Ngân hàng có thể đầu tư lượng vốn dư vào trái phiếu chính phủ và đây cũng là cách để đảm bảo tính thanh khoản của ngân hàng, mặt khác đây cũng là công cụ để ngân hàng điều tiết tính thanh khoản trên thị trường. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Thị trường liên ngân hàng là nơi cách ngân hàng vay và cho vay lẫn nhau để đảm bảo tính thanh khoản cho toàn bộ hệ thống ngân hàng. Do đó, từ công thức của mô hình Monti-Klein cho thấy rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản liên quan mật thiết với nhau.
Hay mô hình các định chế trung gian tài chính của Diamond và Dybvig (1983) hay Bryant(1980) cho thấy bảng cấu trúc tài sản và nợ phải trả có liên hệ chặt chẽ với nhau, đặc biệt liên quan đến nguồn tiền được rút ra (hay rủi ro thanh khoản) và sự vỡ nợ của các khoản vay (hay rủi ro tín dụng). Bên phần tài sản luôn cho thấy mức độ cho vay khách hàng, từ đó cũng là nơi phát sinh rủi ro tín dụng khi khách hàng không thực hiện đúng theo quy định vay, về phần nguồn vốn luôn thể hiện lượng tiền gửi của khách hàng tương ứng với rủi ro thanh khoản khi khách hàng đột ngột đến rút tiền. Tài sản Nguồn vốn 1. Tiền dự trữ 1.
Tiền gửi giao dịch 2. Tiền gửi phi giao dịch 3. Các khoản cho vay 3. Các khoản tiền vay 4.
Tài sản khác 4. Vốn chủ sở hữu và các quỹ Hoạt động chính của các ngân hàng huy động tiền gửi từ công chúng sau đó tiến hành cho vay dựa trên sự chênh lệch giá để tìm kiếm lợi nhuận, huy động tăng dẫn đến cho vay tăng, hay rủi ro tín dụng tăng làm giảm tính thanh khoản của ngân hàng do làm giảm dòng tiền thu vào và tăng chi phí dự phòng. Từ đó, cho thấy có một mối quan hệ chặt chẽ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng. Sau đó, cũng đã có nhiều nghiên cứu chứng minh cho mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản.
Theo Dermine (1986) với bài nghiên mở rộng mô hình Monti-Klein cho thấy rủi ro thanh khoản được xem là một khoản chi phí làm giảm lợi nhuận và các khoản vay vỡ nợ làm tăng rủi ro thanh khoản bởi vì dòng tiền thu vào giảm và chi phí dự phòng tăng. Do đó, rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản có mối quan hệ với nhau. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Theo Holmstrom & Tirole (1998); Kashyap et al. (2002) nghiên cứu tại các định chế tài chính trung gian, ngân hàng là nơi tạo thanh khoản trong nền kinh tế và tạo nguồn vốn cung cấp cho các dự án đầu tư từ nguồn tiền gửi của khách hàng, hoặc từ các hoạt động ngoại bảng bởi các dòng tín dụng mở.
Do đó, rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản có mối liên quan chặt chẽ với nhau. Nghiên cứu của Samartin (2003) mở rộng dựa trên mô hình Diamond and Dybvig để trả lời câu hỏi “Làm thế nào để ngăn chặn sự sụp đổ của ngân hàng” cho thấy tài sản rủi ro của ngân hàng gây ra những cú sốc ngân hàng, hay các khoản vay với rủi ro cao làm tăng xác suất vỡ nợ của các ngân hàng, từ đó làm giảm dòng tiền thanh khoản cho khách hàng. Tóm lại, thanh khoản và rủi ro tín dụng có quan hệ cùng chiều và cùng đóng góp vào sự bất ổn của ngân hàng. Diamond và Rajan (2005) cho thấy có mối quan hệ cùng chiều giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng.
Nghiên cứu làm rõ nếu có quá nhiều dự án kinh tế được tài trợ bằng vốn vay thì ngân hàng không thể đáp ứng được nhu cầu rút tiền của người gửi tiền do nguồn tiền được dùng chủ yếu cho vay, nguồn tiền dự trữ không đủ đáp ứng nhu cầu của người gửi. Mặt khác, thời hạn cho vay thường dài hơn thời hạn gửi tiền, những người gửi tiền này sẽ đòi lại tiền của họ nếu những tài sản này xấu đi về giá trị. Điều này hàm ý rằng rủi ro thanh khoản và tín dụng tăng đồng thời. Theo Acharya & Viswanathan (2011), nếu ngân hàng sử dụng tất cả cho các khoản vay và giảm toàn bộ tính thanh khoản.
Kết quả là rủi ro tín dụng cao hơn đi kèm với rủi ro thanh khoản cao hơn do nhu cầu rút tiền của người gửi tiền. Các công ty tài chính gia tăng mạnh các khoản nợ và sử dụng tài sản tài chính cho nhiều khoản nợ hơn trong hệ thống ngân hàng dẫn đến rủi ro cao hơn. Nikomara, Taghavi và Diman (2013) nghiên cứu mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng và thanh khoản đối với các ngân hàng Iran trong giai đoạn 2005-2012.