phần mở đầu, kết luận, các phụ lục và tài liệu tham khảo, luận án có kết cấu gồm 5 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết về tác động của phát triển bền vững doanh nghiệp đến chi phí sử dụng vốn Chƣơng 2: Tổng quan nghiên cứu tác động của phát triển bền vững doanh nghiệp đến chi phí sử dụng vốn Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 4: Kết quả phân tích tác động của phát triển bền vững doanh nghiệp đến chi phí sử dụng vốn các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam Chƣơng 5: Các hàm ý và khuyến nghị dựa trên kết quả nghiên cứu 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG DOANH NGHIỆP ĐẾN CHI PHÍ SỬ DỤNG VỐN 1. Cơ sở lý thuyết về phát triển bền vững doanh nghiệp 1. Khái niệm về phát triển bền vững doanh nghiệp Phát triển bền vững lần đầu đƣợc định nghĩa trong bản báo cáo ―Tƣơng lai chung của chúng ta‖: “Phát triển bền vững là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” (WCED, 1987). Nhìn từ góc độ kinh doanh, Dyllick và Hockerts (2002) định nghĩa PTBVDN là sự đáp ứng nhu cầu của các bên liên quan đến doanh nghiệp mà không làm tổn hại đến lợi ích trong tƣơng tai của các bên liên quan.
Có thể hiểu là doanh nghiệp muốn PTBV thì chú trọng đến chiến lƣợc, chính sách hoạt động của doanh nghiệp ở tất cả các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trƣờng. Quan điểm này cũng tƣơng tự nhƣ học thuyết Triple Bottom Line của Elkington (1997). Trong khi đó Soppe (2009) lại cho rằng sự PTBVDN là “khả năng tạo ra giá trị lâu dài của một DN bằng cách chấp nhận rủi ro và nắm bắt cơ hội từ sự phát triển kinh tế, môi trường và xã hội”. Mô hình bốn cấp bậc mang tên ―Kim tự tháp‖ TNXH của doanh nghiệp (Carroll, 1991) nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phải đáp ứng các cấp độ của TNXH bao gồm cả kinh tế, pháp luật, đạo đức và từ thiện.
Theo Carroll, trách nhiệm quan trọng hàng đầu của DN đó là tạo ra lợi nhuận cho các chủ sở hữu. Đây chính là trách nhiệm kinh tế của DN. Đặc điểm này nằm ở dƣới đáy của kim tự tháp cho thấy đây là mục tiêu hàng đầu của DN. Bên trên trách nhiệm kinh tế là trách nhiệm pháp lý hàm ý rằng DN phải tuân thủ các quy định về pháp luật, cũng nhƣ các thông lệ của xã hội.
Trách nhiệm đạo đức nằm ở bậc tiếp theo cho rằng các DN phải tuân thủ các quy tắc về đạo đức, không tổn hại đến các bên có liên quan. Bậc cao nhất là trách nhiệm từ thiện, thể hiện ―lòng tốt‖ của DN đối với cộng đồng. 8 Trách nhiệm Từ thiện Trách nhiệm đạo đức Trách nhiệm tuân thủ pháp luật Trách nhiệm về kinh tế Hình 1.1: Mô hình kim tự tháp của Carroll (1991) Một trong những nền tảng của PTBV là mô hình Trip Bottom Lỉne của Elkington (1997). PTBV là dựa trên việc tìm kiếm sự cân bằng giữa ba khía cạnh: kinh tế, môi trƣờng và xã hội.
Kinh tế bao gồm tiết kiệm cắt giảm chi phí, gia tăng lợi nhuận, tăng trƣởng quy mô, nghiên cứu và phát triển. Môi trƣờng bao gồm việc sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên, quản lý môi trƣờng, ngăn chặn ô nhiễm (nguồn nƣớc, đất, rác thải, không khí). Xã hội bao gồm: điều kiện sống, giáo dục, cộng đồng, cơ hội bình đẳng. Dyllick và Hockerts (2002) đã xem xét quan điểm về PTBVDN cả hai chiều không gian (các bên liên quan) và thời gian (hiện tại và tƣơng lai) khi cho rằng PTBVDN là đáp ứng nhu cầu của các bên liên quan trực tiếp và gián tiếp của DN (nhƣ cổ đông, nhân viên, khách hàng, nhóm áp lực, cộng đồng, v.) mà không ảnh hƣởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các bên liên quan trong tƣơng lai.2: Mô hình Trip Bottom Line của Elkington (1997) 9 Theo Wilson (2003), sự phát triển về quan điểm PTBVDN là sự kết hợp của bốn yếu tố: phát triển bền vững, trách nhiệm xã hội của DN, các bên liên quan và trách nhiệm giải trình.
Mục tiêu PTBVDN đang thay thế cho mục tiêu tăng trƣởng và tối đa hóa lợi nhuận của DN. Trong đó PTBV bao gồm 3 trụ cột về kinh tế, hệ sinh thái, công bằng xã hội (WCED, 1987). Đây cũng là các vấn đề cơ bản của phát triển bền vững. Yếu tố thứ nhất là về kinh tế, điều này hàm ý sự PTBV đặt lên đầu tiên của doanh nghiệp chính là sự tồn tại, phát triển về kinh tế của doanh nghiệp.
Yếu tố thứ hai về trách nhiệm xã hội, nó đơn giản giải thích các nhà quản trị phải có trách nhiệm đạo đức và xem xét đến nhu cầu của xã hội chứ không chỉ là lợi ích của các cổ đông hay của bản thân các nhà quản trị. Yếu tố thứ ba về trách nhiệm với môi trƣờng. Kinh tế Ranh giới của chủ đề và mô tả Phát triển mục tiêu chung Hệ sinh thái bền vững của xã hội Công bằng xã hội Giải thích tại sao DN nên thực hiện mục Đạo đức TNXHDN tiêu PTBV bằng quan điểm đạo đức PTBVDN Giải thích tại sao DN nên thực Quản trị Lý thuyết các hiện mục tiêu chiến lược bên liên quan PTBV bằng quan điểm kinh doanh Lý thuyết về Giải thích tại sao Luật DN nên lập báo trách nhiệm kinh doanh cáo PTBV bằng giải trình quan điểm đạo đức Hình 1.3: Khung khái niệm phát triển bền vững theo Wilson 2003 10 Dunphy (2003) cho rằng PTBVDN có nghĩa là sự đóng góp của doanh nghiệp cho ―sự bền vững liên tục của hành tinh, sự sống còn của con người và các loài khác, sự phát triển của một xã hội công bằng và nhân văn, và tạo ra công việc đem lại giá trị và sự hài lòng cho những người đảm nhận nó‖. Theo Lo (2010), PTBVDN đƣợc định nghĩa là sự tích hợp của lợi ích tài chính, bảo vệ môi trƣờng và trách nhiệm xã hội trong hoạt động kinh doanh và quản trị.
Tuy nhiên, PTBVDN vẫn còn là một khái niệm mơ hồ, tranh cãi và gây nhầm lẫn bởi có nhiều quan điểm khác nhau (Aras và Crowther, 2009; Aras và Crowther, 2008; Hahn và Figge, 2011; Linnenluecke và Griffiths, 2010; Metcalf và Benn, 2013). Van Marrewijk và Were (2003) cho rằng ―không có khái niệm phát triển bền vững doanh nghiệp cố định‖. Tính minh bạch, công khai, sự tham gia của các bên liên quan, cách tiếp cận xã hội đối với kinh doanh, vốn nhân lực, v. đều phải đƣợc điều chỉnh phù hợp với bối cảnh và mức độ tham vọng cụ thể của các nỗ lực PTBVDN.
Hahn và cộng sự (2015) cũng đề xuất một cách tiếp cận tích hợp, coi PTBVDN nhƣ đề cập đến một tập hợp các mối quan tâm kinh tế, môi trƣờng và xã hội liên kết với nhau một cách có hệ thống ở các cấp độ khác nhau mà các DN dự kiến sẽ giải quyết đồng thời. Amini và Bienstock (2014) thừa nhận rằng các vấn đề xoay quanh khái niệm PTBV là rất phức tạp và chuyên sâu, và cho rằng sự phức tạp nhƣ vậy đòi 11 hỏi một cách tiếp cận đa chiều và tích hợp tạo ra một ―định nghĩa bao hàm‖. Dựa trên đánh giá tài liệu, họ đã xây dựng một khung khái niệm PTBVDN bao gồm năm yếu tố: (1) PTBVDN phải là một phần của nỗ lực chiến lƣợc tổng thể, và nỗ lực đó phải chặt chẽ đan xen với các hoạt động truyền thông ở cả trong và ngoài DN; (2) để các hành động của PTBVDN thành công và có ý nghĩa, các DN phải tiếp cận chuỗi cung ứng của mình (chủ yếu là nhà cung cấp và khách hàng); (3) DN phải tham gia vào quá trình đổi mới theo định hƣớng bền vững bao gồm nhiều bên liên quan; (4) DN nên tiếp cận bền vững một cách chủ động, thay vì chỉ đơn giản là phải tuân thủ luật pháp cũng nhƣ các quy định hiện hành; và (5) DN phải nắm giữ tất cả các khía cạnh của tính bền vững (tức là kinh tế, sinh thái / môi trƣờng và công bằng xã hội). Nhìn nhận theo thời gian, Bansal và DesJardine (2014) cho rằng PTBVDN là khả năng đáp ứng nhu cầu ngắn hạn của các DN mà không ảnh hƣởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu trong tƣơng lai của DN và các bên liên quan.
Do đó, thời gian phải đƣợc coi là trọng tâm của khái niệm bền vững. Theo Lozano và cộng sự (2015), DN là một hệ thống bao gồm các nguồn lực và mạng lƣới các mối quan hệ với các bên liên quan. Các nhân viên của DN có trách nhiệm đại diện cho DN, quản lý tài nguyên của mình và trao quyền cho các bên liên quan để DN tuân thủ luật pháp, duy trì hoạt động kinh doanh, tăng lợi thế cạnh tranh và đóng góp tốt hơn để thúc đẩy sự phát triển của xã hội bền vững bằng cách giải quyết một cách toàn diện các khía cạnh kinh tế, môi trƣờng, xã hội và thời gian. Bergman và cộng sự (2017) cho rằng PTBVDN đề cập đến một cách tiếp cận và chiến lƣợc kinh doanh có hệ thống, trong đó xem xét tác động xã hội và môi trƣờng lâu dài của tất cả các hành vi thúc đẩy kinh tế của một DN vì lợi ích của ngƣời tiêu dùng, nhân viên và chủ sở hữu hoặc cổ đông.
Phát triển bền vững DN cũng đƣợc đánh giá dựa trên năm khía cạnh của báo cáo hiệu quả hoạt động DN gồm: kinh tế, quản trị DN, xã hội, đạo đức và môi trƣờng (EGSEE) (Brockett và Rezaee, 2012). Đây đƣợc coi là cách tiếp cận toàn diện nhất hiện nay về phát triển bền vững.1: Các khía cạnh của PTBVDN Các khía cạnh Tác giả Carroll (1991); Elkington (1994); Van Marrewijk (2003); Wilson (2003); Soppe (2007); Aras và Crowther (2009); Bansal Kinh tế và DesJardine (2014); Amini và Bienstock (2014); Lozano và cộng sự (2015); Hahn và cộng sự (2015) Elkington (1994); Van Marrewijk (2003); Wilson 2003; Dunphy và cộng sự (2003); Strand (2014); Amini và Bienstock (2014); Môi trƣờng Aras và Crowther (2009); Lozano và cộng sự (2015); Soppe (2007); Hahn và cộng sự (2015) Elkington (1994); Van Marrewijk (2003); Dunphy và cộng sự (2003); Wilson (2003); Amini và Bienstock (2014); Aras và Xã hội Crowther (2009); Pearce và cộng sự (2013); Lozano và cộng sự (2015); Hahn và cộng sự (2015) Wilson (2003); Aras và Crowther (2009); Lo (2010); Brockett Quản trị và Rezaee (2012) Đạo đức Carroll (1991); Wilson (2003); Brockett và Rezaee (2012).