chương 1, tác giả đã trình bày khái quát đề tài bao gồm tóm tắt, lý do chọn đề tài, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, đóng góp và bố cục của luận văn. Đây là cơ sở để hoàn thiện toàn bộ nội dung chi tiết của đề tài. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NGUỒN VỐN VÀ TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM 2. Tổng quan về nguồn vốn và tăng trưởng tín dụng NHTM Việt Nam.
Tổng quan về nguồn vốn. Trong bài luận văn này, nguồn vốn mà tác giả đang xem xét là nguồn vốn chủ sở hữu của ngân hàng và được định nghĩa như sau: Theo chuẩn mực kế toán, vốn chủ sở hữu là giá trị của doanh nghiệp được tính bằng số chênh lệch giữa giá trị tài sản và nợ phải trả. Vốn chủ sở hữu – thuộc sở hữu của ngân hàng trên bảng cân đối kế toán - chính là phần chênh lệch giữa tổng tài sản và tổng nợ. Vốn chủ sở hữu = Tổng tài sản – Tổng nợ.
Vốn chủ sở hữu bao gồm vốn điều lệ, các quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng tài chính, quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ, lợi nhuận không chia và một số tài sản nợ khác theo quy định của NHNN (Phan Thị Thu Hà, 2013). Hiện nay, theo chuẩn mực của Ủy ban Basel, vốn chủ sở hữu NHTM được chia thành: Vốn cấp 1: Là nguồn vốn có sẵn, chắc chắn và các khoản dự phòng được công bố. Ngân hàng giữ phần lớn vốn chủ sở hữu làm vốn cấp 1 bao gồm: Vốn chủ sở hữu vĩnh viễn (vốn điều lệ hoặc vốn cổ phần phổ thông), vốn dự trữ đã công bố (lợi nhuận không chia), lợi ích thiểu số tại các công ty con có hợp nhất báo cáo tài chính, lợi thế kinh doanh. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Vốn cấp 2: Là nguồn vốn bổ sung có độ tin cậy thấp hơn, bao gồm nguồn vốn phát hành từ trái phiếu chuyển đổi, vốn tăng do đánh giá lại tài sản, các khoản dự phòng tổn thất chung, vốn bổ sung từ các công cụ nợ hỗn hợp, đầu tư tài chính vào công ty con và các tổ chức khác… Phần lớn các khoản mục trên có lãi suất cố định và thứ tự ưu tiên thanh toán đứng sau người gửi tiền và các chủ nợ khác.
Vốn cấp 2 trực tiếp làm tăng khả năng của ngân hàng trong việc thanh toán các khoản nợ. Ngoài ra, Basel còn tính một số khoản nợ ngắn hạn vào vốn cấp 3. Trong đó vốn cấp 1 phải lớn hơn hoặc bằng vốn cấp 2 cộng vốn cấp 3 và vốn cấp 3 thì không được xét đến trong tính tỷ lệ an toàn vốn. Đặc điểm của vốn chủ sở hữu.
Vốn chủ sở hữu chỉ chiếm 5% đến 10% tổng nguồn vốn, luôn được bổ sung trong quá trình phát triển và có thể sử dụng lâu dài nhưng có chi phí cao hơn nợ. Ngoài ra chủ sở hữu có thể tham gia vào các quyết định của ngân hàng một cách trực tiếp (thông qua Hội đồng quản trị) hay gián tiếp (thông qua Đại hội đồng cổ đông). Vai trò của vốn chủ sở hữu. Khi nhìn vào bảng cân đối kế toán của các NHTM ta thấy VCSH chỉ chiếm khoảng 5% - 10% tài sản có, còn lại khoảng 90% - 95% là các khoản nợ.
Tuy nhiên, VCSH lại là yếu tố chịu sự giám sát rất chặt chẽ của các nhà quản trị NHTM và ngân hàng nhà nước bởi vì nó có những vai trò và chức năng vô cùng quan trọng. Thứ nhất, VCSH là tấm đệm chống lại rủi ro phá sản, được sử dụng để bù đắp những thua lỗ về tài chính trong quá trình kinh doanh trong khoảng thời gian nhất định. Đây là vai trò chủ yếu hàng đầu của VCSH tại các NHTM. Trên thực tế ngân hàng có rất nhiều biện pháp có thể phòng ngừa rủi ro nhưng khi tất cả các biện pháp này không hiệu quả thì VCSH sẽ là cứu cánh cuối cùng của ngân hàng.
Các quỹ dự phòng rủi ro, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 lợi nhuận tích lũy, vốn cổ phần sẽ giúp ngân hàng bù đắp tổn thất và cho phép ngân hàng tiếp tục hoạt động. Thứ hai, VCSH tạo lập tư cách pháp nhân và duy trì hoạt động của ngân hàng. Điều kiện đầu tiên của các ngân hàng là phải có một số VCSH tối thiểu ban đầu (vốn pháp định) theo quy định và mỗi ngân hàng mới đều cần vốn để xây dựng, mua sắm trang thiết bị, thuê nhân viên, tham gia vào các hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Thứ ba, VCSH tạo ra uy tín cho ngân hàng, niềm tin cho công chúng và sự đảm bảo với chủ nợ về sức mạnh tài chính của ngân hàng.
Các ngân hàng đều rất cần nguồn vốn huy động để có thể tiến hành các hoạt động kinh doanh. Những cá nhân, tổ chức đều phải xem xét đến năng lực và uy tín của ngân hàng để ký thác tài sản của mình vào NHTM. Tiềm lực tài chính của ngân hàng mạnh sẽ tạo lòng tin ở khách hàng và quy mô vốn chính là một yếu tố thể hiện điều đó. Hiện nay, khách hàng có thể tìm thấy chỉ số này một cách dễ dàng thông qua báo cáo tài chính nhằm so sánh và đưa ra quyết định.
Các ngân hàng có quy mô VCSH lớn hơn sẽ dễ dàng hấp dẫn được khách hàng ký thác hơn. Vì vậy quy mô VCSH nên được các ngân hàng chú ý hơn. Thứ tư, VCSH cung cấp nguồn lực tài chính cho ngân hàng tăng trưởng và phát triển. Khi phát triển, ngân hàng cần nguồn vốn để thúc đẩy tăng trưởng, mở rộng địa bàn hoạt động, mở thêm chi nhánh, phòng giao dịch, nâng cấp cơ sở vật chất, kỹ thuật,…VCSH sẽ tài trợ cho các hoạt động này để ngân hàng phục vụ khách hàng tốt nhất từ đó tăng trưởng và phát triển.
Thứ năm, VCSH điều tiết sự hoạt động và sự tăng trưởng của ngân hàng. Có rất nhiều quy định nhằm đảm bảo sự an toàn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng liên quan chặt chẽ với VCSH, đó là những giới hạn về: tỷ lệ an toàn vốn, tỷ lệ cho vay tối đa đối với một hoặc một nhóm khách hàng, số lượng chi nhánh,. Khi huy động vốn hoặc cho vay quá nhanh thì những quy định của cơ quan quản lý sẽ kìm hãm sự tăng trưởng hoặc các ngân hàng phải tăng thêm VCSH nhằm duy trì mức độ an toàn. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Tín dụng ngân hàng thương mại. Lịch sử phát triển cho thấy tín dụng là một phạm trù kinh tế và cũng là một sản phẩm của nền sản xuất hàng hoá. Nó tồn tại song song và phát triển cùng với nền kinh tế hàng hoá và là động lực quan trọng thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển lên những giai đoạn cao hơn. Tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội.
Một cách chung nhất, tín dụng là việc một bên (bên cho vay) cung cấp nguồn tài chính cho đối tượng khác (bên đi vay) trong đó bên đi vay sẽ hoàn trả tài chính cho bên cho vay trong một thời hạn thỏa thuận và thường kèm theo lãi suất. Có nhiều khái niệm về tín dụng ngân hàng nhưng có thể tựu chung lại như sau: tín dụng ngân hàng là giao dịch tài sản giữa ngân hàng (TCTD) với bên đi vay (là các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nền kinh tế) trong đó ngân hàng (TCTD) chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán. Từ đó, ta có được khái niệm: Tăng trưởng tín dụng là việc các NHTM sử dụng các chính sách nhằm tăng nguồn vốn huy động, đáp ứng cho việc cấp tín dụng, chiết khấu, đầu tư vào những đối tượng là các tổ chức kinh tế, cá nhân… có nhu cầu vay vốn, từng bước nâng cao lợi nhuận, thị phần và thương hiệu trên thị trường. Công thức tính: Tốc độ tăng trưởng tín dụng = (Tổng dư nợ tín dụng kỳ này - Tổng dư nợ tín dụng kỳ trước)/ Tổng dư nợ tín dụng kỳ trước.
Có ba loại nguồn vốn chủ yếu có thể huy động cho đầu tư phát triển, tăng trưởng tín dụng. Đó là: Nguồn vốn nhà nước: Ngân sách nhà nước, vốn trong các doanh nghiệp Nhà Nước, vốn tài sản công, tài sản quốc gia. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Nguồn vốn trong dân cư: Nguồn vốn tiết kiệm trong các hộ gia đình dưới dạng tiền hoặc các tài sản có giá trị như vàng, bạc, đá quý, đồ cổ,… Nguồn vốn đầu tư nước ngoài: ODA là một hình thức đầu tư nước ngoài. Thường gọi là nguồn vốn hỗ trợ bởi vì các khoản đầu tư này thường là các khoản cho vay không lãi suất hoặc lãi suất thấp với thời gian vay dài.
Ngoài ra còn có các hình thức khác như nguồn vay thương mại, nguồn kiều hối từ người Việt nước ngoài mang về, nguồn vốn FDI, FII,… b. Vai trò của tín dụng ngân hàng. Hiện nay, tín dụng ngân hàng có một vai trò rất quan trọng. Nó được thể hiện qua ba khía cạnh khác nhau.
+ Đối với nền kinh tế: Tín dụng ngân hàng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tạo ra việc làm đồng thời giúp phân bổ hiệu quả các nguồn lực tài chính trong nền kinh tế. Hoạt động tín dụng ngân hàng ra đời đã biến phương tiện tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong xã hội thành những phương tiện hoạt động kinh doanh hiệu quả. Cung ứng vốn một cách kịp thời để đáp ứng các nhu cầu về vốn cho các doanh nghiệp, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất liên tục, mở rộng và phát triển khoa học kỹ thuật. Từ đó giúp nền kinh tế tăng trưởng, tạo công ăn việc và năng suất lao động cao hơn.
Tín dụng ngân hàng là công cụ điều tiết kinh tế xã hội của nhà nước. Thông qua việc đầu tư tín dụng vào các khu vực và ngành nghề trọng điểm sẽ thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển tại các khu vực, ngành nghề đó, tạo nên cơ cấu kinh tế hiệu quả. Thông qua công cụ lãi suất, tín dụng ngân hàng góp phần lưu thông tiền tệ, ổn định giá trị đồng tiền. Tín dụng ngân hàng góp phần mở rộng và phát triển quan hệ kinh tế quốc tế.
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế toàn cầu, tín dụng ngân hàng trở thành một TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.