CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ KINH TẾ VĨ MÔ ĐỐI VỚI RỦI RO TÍN DỤNG CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở lý thuyết về rủi ro tín dụng của hệ thống Ngân hàng 1. Các quan điểm về rủi ro tín dụng Năm 1999, Ủy ban Basel về giám sát Ngân hàng thương mại (BCBS) đã đưa ra những nhận định về rủi ro tín dụng : Thứ nhất, rủi ro tín dụng là khả năng một khách hàng vay Ngân hàng thương mại hoặc đối tác mà không đáp ứng nghĩa vụ của mình theo các điều khoản thỏa thuận. Thứ hai, các Ngân hàng thương mại đang ngày càng phải đối mặt với rủi ro tín dụng trong các công cụ tài chính khác nhau ngoài hoạt động cho vay, bao gồm các giao dịch liên Ngân hàng thương mại, tài trợ thương mại, giao dịch ngoại hối, hợp đồng hoán đổi, trái phiếu, cổ phiếu, hợp đồng quyền chọn, hợp đồng tương lai kể cả các cam kết và bảo lãnh.
Thứ ba, gia tăng rủi ro tín dụng sẽ làm tăng chi phí cận biên của nợ và vốn chủ sở hữu, do đó làm tăng chi phí vốn cho Ngân hàng thương mại. Bên cạnh đó, theo quyết định số 493/2005QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc ban hành Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động Ngân hàng thương mại của tổ chức tín dụng, cho rằng: “Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động Ngân hàng thương mại của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Như vậy, rủi ro tín dụng trong hoạt động Ngân hàng thương mại là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động Ngân hàng thương mại do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết. Rủi ro tín dụng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 là một trong những rủi ro lâu đời nhất và quan trọng nhất mà các Ngân hàng cũng như các tổ chức tín dụng phải đối mặt.
Rủi ro tín dụng tác động nghiêm trọng đến hầu hết các giao dịch tài chính và là nguy cơ đáng kể nhất đối với các Ngân hàng , thậm chí trong những tình huống xấu nhất có thể dẫn đến phá sản Ngân hàng và gây ra cuộc khủng hoảng cho cả nền kinh tế. Phân loại và đặc điểm của rủi ro tín dụng 1. Phân loại rủi ro tín dụng Có rất nhiều cách để chúng ta có thể phân loại rủi ro tín dụng nhưng tùy vào mục đích cũng như các yêu cầu về nghiên cứu thì có thể phân loại rủi ro tín dụng theo sơ đồ sau: Hình 1.1: Sơ đồ phân loại các rủi ro tín dụng Rủi ro giao dịch: là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Bao gồm: Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, phương án vay vốn để quyết định tài trợ của Ngân hàng thương mại.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 Rủi ro bảo đảm: là rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như mức cho vay, loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo… Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến hoạt động quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề. Rủi ro danh mục: là RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của Ngân hàng. Bao gồm: Rủi ro nội tại : xuất phát từ đặc điểm hoạt động và sử dụng vốn của khách hàng vay vốn, lĩnh vực kinh tế. Rủi ro tập trung: rủi ro do Ngân hàng tập trung cho vay quá nhiều vào một số khách hàng, một ngành kinh tế hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.
Đặc điểm của rủi ro tín dụng Để chủ động phòng ngừa RRTD có hiệu quả thì việc nhận biết các đặc điểm của RRTD là rất cần thiết và hữu ích. Rủi ro tín dụng có những đặc điểm cơ bản sau: Rủi ro tín dụng mang tính gián tiếp Trong quan hệ tín dụng, khi Ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng vốn cho khách hàng thì RRTD xảy ra là khi khách hàng gặp những tổn thất và thất bại trong quá trình sử dụng vốn, hay nói cách khác những rủi ro trong hoạt động kinh doanh của khách hàng là nguyên nhân chủ yếu gây nên RRTD của Ngân hàng. Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng và phức tạp Đặc điểm này biểu hiện ở sự đa dạng, phức tạp của nguyên nhân, hình thức, hậu quả của RRTD do đặc trưng Ngân hàng là trung gian tài chính kinh doanh tiền tệ. Do đó khi phòng ngừa và xử lý RRTD phải chú ý đến mọi dấu hiệu rủi ro, xuất phát từ nguyên nhân, bản chất và hậu quả do RRTD đem lại để có biện pháp phòng ngừa phù hợp.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 Rủi ro tín dụng có tính tất yếu tức là luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tín dụng của Hệ thống Ngân hàng Tình trạng thông tin bất cân xứng đã làm cho Ngân hàng không thể nắm bắt được các dấu hiệu rủi ro một cách toàn diện và đầy đủ, điều này làm cho bất cứ khoản vay nào cũng tiềm ẩn rủi ro đối với Ngân hàng. Kinh doanh Ngân hàng thực chất là kinh doanh rủi ro ở mức phù hợp và đạt được lợi nhuận tương ứng. Những căn cứ chủ yếu để xác định mức độ rủi ro tín dụng 1. Tỷ lệ nợ quá hạn Là số tiền mà khách hàng chưa hoàn trả cho Ngân hàng cả gốc lẫn lãi khi đáo hạn hợp đồng tín dụng mà không làm đơn xin gia hạn hoặc điều chỉnh kỳ hạn với nguyên nhân hợp lý.
Nếu nợ quá hạn chiếm tỷ lệ cao trong tổng dư nợ, điều này chứa đựng rủi ro cho Ngân hàng , thu nhập của Ngân hàng sẽ bị giảm. Nợ quá hạn Tỷ lệ nợ quá hạn = x 100% Tổng dư nợ cho vay Chỉ tiêu nợ quá hạn là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng cho vay của Ngân hàng. Chỉ tiêu này càng lớn, thể hiện sự thâm hụt vốn tự có càng nhiều do chất lượng tín dụng bị giảm sút. Chỉ tiêu này càng cao thì khả năng thanh toán của Ngân hàng càng giảm.
Tỷ lệ nợ xấu Nợ xấu là nợ có vấn đề, nợ không lành mạnh, nợ khó đòi, nợ không thể đòi, là các khoản nợ mang các đặc trưng cơ bản sau: - Khách hàng đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với Ngân hàng khi các cam kết này đã hết hạn. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 - Tình hình tài chính của khách hàng đang và có chiều hướng xấu dẫn đến có khả năng Ngân hàng không thu hồi được vốn lẫn lãi. - Tài sản đảm bảo (thế chấp, cầm cố, bảo lãnh) được đánh giá là giá trị phát mãi không đủ trang trải nợ gốc và lãi. - Nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3, 4, 5.
- Đánh giá chất lượng tín dụng của tổ chức tín dụng dựa trên tỷ lệ nợ xấu, quy định này của NHNN cho phép tỷ lệ nợ xấu không quá 5%. Hệ số rủi ro tín dụng Hệ số này cho thấy tỷ trọng của các khoản mục tín dụng trong tài sản có, khoản mục tín dụng trong tổng tài sản càng lớn thì lợi nhuận càng lớn nhưng đồng thời rủi ro tín dụng cũng rất cao. Thông thường, tổng dư nợ cho vay của Ngân hàng được chia thành ba nhóm: Nhóm dư nợ của các khoản tín dụng có chất lượng tốt: là những khoản cho vay có mức độ rủi ro thấp nhưng có thể mang lại thu nhập không cao cho Ngân hàng. Nhóm dư nợ của các khoản tín dụng có chất lượng trung bình: là những khoản cho vay có mức độ rủi ro có thể chấp nhận được và thu nhập mang lại cho Ngân hàng là vừa phải.
Đây là khoản tín dụng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ cho vay của Ngân hàng. Nhóm dư nợ của các khoản tín dụng có chất lượng xấu: là những khoản cho vay có mức độ rủi ro lớn nhưng có thể mang lại thu nhập cao cho Ngân hàng. Thông thường, đây là khoản tín dụng chiếm tỷ trọng thấp trong tổng dư nợ cho vay của Ngân hàng. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng tại hệ thống Ngân hàng 1. Nguyên nhân chủ quan Tác động của môi trường kinh tế Nhiều khách hàng kinh doanh các ngành mang tính thời vụ và phụ thuộc nhiều vào các yếu tố từ thiên nhiên như hạn hán, lũ lụt hay các thiên tai, dịch bệnh đột ngột kéo đến sẽ dễ dàng và nhanh chóng làm cho các hoạt động kinh doanh của khách hàng dễ “đổ vỡ” dẫn đến khả năng hoàn trả các khoản nợ rất khó khăn hoặc không thể trả nợ làm cho chất lượng các khoản tín dụng bị giảm sút. Ngoài ra, môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, nhiều khách hàng của các Ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường. Tác động của môi trường pháp lý Kinh doanh tiền tệ là ngành kinh doanh có ảnh hưởng rất nhiều đến sự ổn định và phát triển chung của nền kinh tế, do đó hoạt động Ngân hàng cũng chịu sự điều tiết về pháp lý của Nhà nước trong đó hoạt động tín dụng Ngân hàng là đối tượng chịu sự tác động trực tiếp.
Khi hành lang pháp lý chưa an toàn, môi trường kinh doanh kém lành mạnh và những chính sách thường thay đổi, thiếu đồng bộ sẽ gây những ách tắc, hệ lụy nặng nề cho hoạt động Ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng. Bên cạnh đó, sự thay đổi về lãi suất, tỷ giá hối đoái, lạm phát, chỉ số giá cả tăng, nguyên vật liệu đầu vào tăng ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh và khách hàng không có khả năng trả nợ. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.