Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan về nợ xấu và các nhân tố tác động đến nợ xấu tại các NHTMCP niêm yết ở Việt Nam. Chương 3: Thực trạng về tình hình hoạt động kinh doanh và nợ xấu ở các NHTMCP niêm yết ở Việt Nam. Chương 4: Phương pháp, dữ liệu và kết quả nghiên cứu.
Chương 5:Giải pháp, kiến nghị nhằm hạn chế và xử lý nợ xấu tại các NHTMCP niêm yết ở Việt Nam. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.7 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu Đề tài nghiên cứu thực hiện trên mẫu dữ liệu của chínNHTMCP niêm yết tại Việt Nam, số liệu mang tính cập nhật. Tác giả cố gắng lấy dữ liệu trong mười năm và số liệu cập nhật đến cuối năm 2015. Tại Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu cùng chủ đề của tác giả, điển hình như những luận văn thạc sĩ của trường Đại học Kinh Tế Tp.
Tuy nhiên, một số nghiên cứu này tiếp cận theo hướng: hoặc là nghiên cứu về nợ xấu tại một ngân hàng cụ thể, hoặc là nghiên cứu trong toàn hệ thống ngân hàng nhưng chưa thực hiện kiểm định giả thuyết thống kê (hay là nghiên cứu định lượng), số khác lại có sửdụng kiểm định giả thuyết thống kê nhưng mà các biến giải thích đưa vào mô hình dường như còn khiêm tốn. Do đó, tác giả cố gắng đưa thêm một số biến giải thích thêm vào mô hình để kiểm nghiệm xem liệu chúng có tác động đến nợ xấu hay không? TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ NỢ XẤU VÀ MỘT SỐ NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NỢ XẤU TẠI CÁC NHTMCP NIÊM YẾT Ở VIỆT NAM Nhằm tìm ra khái niệm chính xác về vấn đề nghiên cứu, tác giả đã tham khảo các tài liệu nghiên cứu trước đây. Qua đó, tác giả xây dựng nên cơ sở lý thuyết về vấn đề mà mình cần nghiên cứu. Thông qua việc lược khảo các tài liệu nghiên cứu, tác giả sẽ rút ra quan điểm chung nhất về nợ xấu, tác động của nó ra sao, cũng như các quan điểm về các nhân tố vĩ mô và các yếu tố đặc thù của ngành ngân hàng có ảnh hưởng mạnh đến nợ xấu.1 Cơ sở lý luận về nợ xấu 2.1 Khái niệm nợ xấu Theo Uỷ ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS) BCBS không đưa ra định nghĩa cụ thể về nợ xấu.
Tuy nhiên, trong các hướng dẫn về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng BCBS xác định: khoản nợ được xem là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện xảy ra:i) Ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi. ii) Người vay đã quá hạn trả nợ trên 90 ngày. BCBS cũng đề cập đến các khoản vay bị giảm giá trị sẽ xảy ra khi khả năng thu hồi các khoản thanh toán từ người vay là không thể. Giá trị tổn thất sẽ được ghi nhận bằng cách giảm trừ giá trị khoản vay thông qua một khoản dự phòng và sẽ được phản ánh trên báo cáo thu nhập của ngân hàng.
Như vậy lãi suất của các khoản vay này sẽ không được cộng dồn và sẽ chỉ xuất hiện dưới dạng tiền mặt thực tế nhận được. Theo Tổ chức tiền tệ thế giới (IMF) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Trong hướng dẫn tính toán các chỉ số lành mạnh tài chính tại các quốc gia, IMF định nghĩa về nợ xấu như sau: Nợ xấu gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và hoặc gốc 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy những dấu hiệu rỏ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ. Sau khi khoản vay được xếp vào danh mục nợ xấu, nó hoặc bất cứ khoản vay thay thế nào cũng nên xếp vào danh mục nợ xấu cho đến thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi được lãi và gốc của khoản vay đó hoặc thu hồi được khoản vay thay thế. Theo quan điểm của Filip(2015) Về cơ bản, một khoản nợ được xác định là nợ xấu khi quan hệ tín dụng trở nên biến chất hoặc thay đổi, không mong đợi và theo chiều hướng có hại.
Cụ thể, nó ngăn cản bất hợp pháp các nguồn cho vay hoặc gây ra tổn thất cho ngân hàng; nợ xấu sẽ xuất hiện trong điều kiện các bên tham gia quan hệ tín dụng có hiệu suất quản lýnguồn tài chính thấp. Một số quan niệm về nợ xấu khác Một số quan niệm về nợ xấu khác được tác giả tìm thấy trong các nghiên cứu khác như: Louzis et al. (2012) cho rằng nợ xấu là những món nợ tại thời điểm hiện tại đã chậm trễ trong thanh toán cho ngân hàng quá 90 ngày từ thời điểm mất khả năng thanh toán.Kouser and Saba (2012) cho rằng nợ xấu được xem xét như một vị thế mà nó hoặc là có thể có khả năng mất vốn hoặc chắc chắn sẽ mất vốn. Nhìn chung, tác giả nhận thấy các quan điểm trên có một số điểm chung nhất định về khái niệm “nợ xấu”.
Các điểm chung này cũng được tìm thấy trong khái niệm nợ xấu của giáo trình “Quản trị ngân hàng thương mại” của Trường Đại học Kinh tế Tp. Do đó, tác giả sử dụng khái niệm này để làm khái niệm “nợ xấu” trong bài nghiên cứu của mình; cụ thể : “Nợ xấu bao gồm những khoản nợ quá hạn có hoặc không thể thu hồi, nợ liên quan đến các vụ án chờ xử lý và những khoản nợ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 không được Chính phủ xử lý rủi ro” và “nợ xấu (Bad debt) là những khoản nợ quá hạn từ 91 ngày trở lên mà không đòi được và không được tái cơ cấu”.2 Đặc trưng, phân loại nợ xấu 2.1 Đặc trưng của nợ xấu - Khách hàng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng khi các cam kết này đã đến hạn. - Tình hình tài chính của khách hàng đang và có chiều hướng xấu dẫn đến có khả năng ngân hàng không thu hồi được cả vốn lẫn lãi. - Tài sản đảm bảo (thế chấp, cầm cố, bảo lãnh) được đánh giá là giá trị phát mãi không đủ trang trãi nợ gốc và lãi.2 Phân loại nợ xấu Nếu căn cứ vào TSĐB, nợ xấu của ngân hàng có thể chia thành các nhóm như sau: Nợ xấu có tài sản đảm bảo, gồm có: nợ tồn đọng ngân hàng đã thu giữ tài sản dưới hình thức gán, xiết nợ; nợ tồn đọng ngân hàng chưa thu giữ tài sản như nợ có tài sản liên quan đến vụ án chờ xét xử; nợ có tài sản đảm bảo đã quá hạn trên 365 ngày.
Nợ xấu không có tài sản đảm bảo và không có đối tượng để thu, gồm có : nợ xóa do thiên tai chưa có nguồn và còn hạch toán nội bảng; nợ khoanh đối với những doanh nghiệp đã giải thể, phá sản; nợ khoanh đối với doanh nghiệp thuộc cácvụ án; nợ khoanh do thiên tai của hộ sản xuất…. Nợ xấu không có tài sản đảm bảo nhưngcon nợ vẫn còn tồn tại, đang hoạt động, gồm có: Nợ khoanh doanh nghiệp khó thu hồi; nợ tín dụng chính sách còn có khả năng thu hồi; nợ quá hạn trên 360 ngày. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Ngoài ra, còn có nhóm nợ là những khoản nợ không thu được nhưng không đủ điều kiện để khoanh nợ, xóa nợ. Theo NHNN (2014b) thì nợ xấu bao gồm 3 nhóm:nhóm 3,4,5, tức nợ dưới chuẩn, nợ nghi ngờ, nợ có khả năng mất vốn; chi tiết từng nhóm nợ này được tác giả đề cập ở Phụ lục 1: Chi tiết nhóm nợ 3,4,5, theo Thông tư số 02/2013/TT – NHNN.3 Những chỉ tiêu cơ bản phản ảnh nợ xấu Đo lường chất lượng tín dụng là nội dung quan trọng trong việc phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh và tính an toàn của NHTM.
Một khoản vay tốt là khoản vay mà khách hàng thanh toán đủ nợ gốc và lãi cho ngân hàng đúng hạn. Để đánh giá chất lượng tín dụng ta có thể xem xét chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn: Tỷ lệ nợ quá hạn = (Dư nợ quá hạn / Tổng dư nợ) *100% Chỉ tiêu nợ xấu cho ta số liệu cụ thể hơn để đo lường chất lượng nghiệp vụ tín dụng. Chỉ tiêu này luôn nhỏ hơn chỉ tiêu nợ quá hạn và phần nào cho thấy chất lượng tín dụng của các NHTM.Các ngân hàng có chỉ số này thấp đã chứng minh được chất lượng cao của mình và ngược lại. Tỷ lệ nợ xấu = (Số dư nợ xấu / Tổng dư nợ )*100% Thông thường thì tỷ lệ nợ quá hạn tốt nhất là ở mức không quá 5%, tỷ lệ nợ xấu là không quá 3%.
Tuy nhiên, chỉ tiêu này đôi khi cũng chưa phản ánh hết chất lượng tín dụng của một ngân hàng. Bởi vì, bên cạnh những ngân hàng có được tỷ lệ nợ quá hạn hợp lý do đã thực hiện tốt các khâu trong qui trình, còn có những ngân hàng có được tỷ lệ nợ quá hạn thấp thông qua việc cho vay đảo nợ, không chuyển nợ quá hạn theo đúng qui định. Hệ số RRTD =(Tổng dư nợ cho vay/ Tổng tài sản có) *100% (Trần Huy Hoàng, 2011) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Hệ số này cho thấy tỷ trọng khoản mục tín dụng trong tổng tài sản có, tỷ trọng này càng cao thì lợi nhuận càng lớn nhưng cùng với đó là RRTD càng cao, hiệu quả hoạt động quản trị RRTD thấp.4 Tác động của nợ xấu Đối với nền kinh tế Tác động đầu tiên là việc chuẩn bị nguồn vốn để xử lý nợ xấu là không có (vì trích lập dự phòng thực tế không có). Khi nợ xấu cao thì điều cần thiết là phải xử lý nợ xấu trong khi đó các ngân hàng thương mại không thể tự mình xử lý hết được vì nguồn trích lập dự phòng không đúng với thực tế, vậy nên việc xử lý nợ xấu có lẽ phải trông cậy vào ngân sách hạn hẹp của Nhà nước.
Về dài hạn, nếu việc xử lý nợ xấu gây bội chi ngân sách sẽ tìm ẩn rủi ro lạm phát. Bên cạnh đó, nợ xấu ngày càng tăng là nguyên nhân chính làm ảnh hưởng thanh khoản của hệ thống ngân hàng. Thanh khoản bấp bênh, đe dọa sự an toàn của hệ thống ngân hàng.