Chương 1. Giới thiệu Trình bày sơ lược về tính cấp thiết của đề tài, cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu; làm rõ mục tiêu nghiên cứu và đưa ra các câu hỏi nghiên cứu để trả lời cho mục tiêu nghiên cứu; đối tượng và phạm vi nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn và những đóng góp đề tài mang lại. Lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm về lợi nhuận và thanh khoản của ngân hàng thương mại Chương này trình bày chi tiết những lý thuyết nền tảng và các công trình nghiên cứu thực nghiệm trước đây về tác động của thanh khoản đến lợi nhuận của các ngân hàng thương mại, làm cơ sở khoa học cho công trình nghiên cứu của luận văn trong việc đưa ra giả thuyết và mô hình nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu Dựa trên những lý thuyết và các công trình nghiên cứu trước đây, chương 3 đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất, từ đó trình bày các giả thuyết nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu cũng như dữ liệu nghiên cứu được sử dụng trong luận văn; giới thiệu phương pháp ước lượng GMM cùng với các kiểm định về sự phù hợp của mô hình và tự tương quan.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Chương 4. Kết quả nghiên cứu Chương 4 tiến hành phân tích thống kê mô tả để đánh giá tình hình thanh khoản và lợi nhuận của các NHTMCP Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu. Thông qua mô hình nghiên cứu, kết quả phân tích hồi quy cho thấy tác động của thanh khoản đến lợi nhuận ngân hàng có mối quan hệ phi tuyến tính. Tỷ lệ tài sản thanh khoản có mối quan hệ phi tuyến đến lợi nhuận ngân hàng, trong khi đó tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi và huy động ngắn hạn có tác động cùng chiều đến lợi nhuận của ngân hàng.
Kết luận và khuyến nghị Từ kết quả nghiên cứu, luận văn đưa ra một số khuyến nghị cho cơ quan quản lý cũng như các nhà quản trị ngân hàng để đưa ra các chính sách phù hợp nhằm đảm bảo thanh khoản cho ngân hàng, đồng thời đạt được mức lợi nhuận mong muốn. Cuối cùng, đưa ra những hạn chế chưa đạt được của luận văn và hướng nghiên cứu tiếp theo. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 CHƯƠNG 2. LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ LỢI NHUẬN VÀ THANH KHOẢN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Chương 2 trình bày chi tiết những lý thuyết và các công trình nghiên cứu trước đây về tác động của thanh khoản đến lợi nhuận của các ngân hàng thương mại, làm cơ sở khoa học cho công trình nghiên cứu của luận văn.
Lợi nhuận và thanh khoản của ngân hàng thương mại 2. Lợi nhuận của ngân hàng thương mại Lợi nhuận của ngân hàng là khoản chênh lệch được xác định giữa tổng doanh thu phải thu trừ đi tổng các khoản chi phí phải trả. Lợi nhuận thực hiện trong năm là kết quả kinh doanh của ngân hàng bao gồm thu nhập từ lãi (tổng thu từ lãi trừ tổng chi phí lãi) và thu nhập ngoài lãi từ các hoạt động khác (Rose, 1998). Lợi nhuận gộp = Tổng doanh thu – Tổng chi phí Lợi nhuận ròng = Lợi nhuận gộp – Thuế thu nhập Để đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng, các chỉ số đo lường lợi nhuận thường được sử dụng bao gồm tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) và tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM).
Trước hết, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (Return on asset – ROA) ROA đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng trong việc sử dụng tài sản để tạo ra lợi nhuận sau khi đã trừ thuế. Đây là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác quản lý của ngân hàng, cho thấy khả năng trong quá trình chuyển tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng. Lợi nhuận ròng ROA = Tổng tài sản Hai là, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (Return on equity – ROE) ROE đo lường tỷ lệ thu nhập cho các cổ đông của ngân hàng. Nó thể hiện thu nhập mà các cổ đông nhận được từ việc đầu tư nguồn vốn vào ngân hàng (tức là đầu tư chấp nhận rủi ro để hy vọng có được thu nhập ở mức hợp lý).
Lợi nhuận ròng ROE = Vốn chủ sở hữu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Ba là, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (Net Interest Margin - NIM) Tổng doanh thu từ lãi − Tổng chi phí từ lãi NIM = Tổng tài sản sinh lời Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên là thước đo tính hiệu quả cũng như khả năng sinh lời. Nó phản ánh năng lực của hội đồng quản trị và nhân viên ngân hàng trong việc duy trì sự tăng trưởng của các nguồn thu so với mức tăng của chi phí; đo lường mức chênh lệch giữa thu từ lãi và chi phí trả lãi mà ngân hàng có thể đạt được thông qua hoạt động kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và theo đuổi các nguồn vốn có chi phí thấp nhất. Luật các tổ chức tín dụng do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành năm 2010 (điều 4, khoản 3) nêu rõ “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Như vậy, ngân hàng thực chất cũng là một doanh nghiệp, nhưng điểm làm nên sự khác biệt của những doanh nghiệp này chính là ngân hàng kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ.
Do đó, hoạt động của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường cũng là hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận. Thanh khoản của ngân hàng thương mại Theo Bank for International Settlement (2008), Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng ban hành “Principles for Sound Liquidity Risk Management and Supervision”, theo đó “Thanh khoản của ngân hàng là khả năng của ngân hàng đó để tăng thêm tài sản và đáp ứng các nghĩa vụ nợ khi đến hạn mà không bị thiệt hại quá mức”. Như vậy, thanh khoản là khả năng ngân hàng đáp ứng đầy đủ và kịp thời các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động giao dịch như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán và các giao dịch tài chính khác. Rủi ro thanh khoản là một loại rủi ro của ngân hàng khi ngân hàng không có đủ các nguồn tài chính để thanh toán các nghĩa vụ nợ vào thời điểm đến hạn, hoặc là phải sử dụng những nguồn tài chính với chi phí cao mặc dù ngân hàng vẫn có khả LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 năng thanh toán (Vento, 2009).
Một ngân hàng hoạt động bình thường phải đảm bảo được khả năng thanh toán, tức là phải đáp ứng được các nhu cầu thanh toán trong hiện tại, tương lai và các nhu cầu thanh toán đột xuất. Rủi ro này có thể dẫn đến phá sản một ngân hàng ngay cả khi ngân hàng đó vẫn đảm bảo hoạt động có lợi nhuận. Rủi ro thanh khoản của một ngân hàng không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh và uy tín của bản thân ngân hàng đó mà nó còn có tác động mạnh mẽ đến toàn bộ hệ thống ngân hàng, tiềm ẩn khả năng đổ vỡ hệ thống. Các ngân hàng tích lũy thanh khoản bằng cách nắm giữ các tài sản thanh khoản (có tính thanh khoản cao) - chủ yếu là tiền mặt và các chứng khoán dễ bán.
Khi nhu cầu thanh khoản xuất hiện, ngân hàng sẽ chuyển đổi một số tài sản cho tới khi đáp ứng được toàn bộ nhu cầu. Tài sản thanh khoản phải có ba đặc điểm sau: (i) Tài sản thanh khoản phải có một thị trường sẵn sàng để có thể được chuyển thành tiền nhanh chóng; (ii) Giá của tài sản phải ổn định, dù tài sản giá trị lớn như thế nào hay cần được bán nhanh ra sao, thị trường vẫn đủ “sâu” để chấp nhận với mức giá thay đổi không đáng kể; (iii) Thị trường của tài sản phải có khả năng đảo chiều cho người bán có thể mua lại tài sản với mức tổn thất không đáng kể. Theo Bordeleau và Graham (2010), tài sản có tính thanh khoản bao gồm: tiền mặt và các khoản tương đương tại quỹ ; tiền gửi tại NHNN ; tiền, vàng gửi tại các TCTD khác và cho vay các TCTD khác. Tại Việt Nam, theo Thông tư 36/2014/TT-NHNN ngày 20/11/2014, tài sản có tính thanh khoản cao bao gồm các khoản mục sau: - Tiền mặt, vàng; - Tiền gửi tại NHNN; - Các loại giấy tờ có giá được sử dụng trong các giao dịch của NHNN; - Tiền trên tài khoản thanh toán tại các ngân hàng đại lý, trừ các khoản đã cam kết cho mục đích thanh toán cụ thể; LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 - Tiền gửi không kỳ hạn tại TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khác ở trong nước và nước ngoài; - Các loại trái phiếu, tín phiếu do Chính phủ các nước, Ngân hàng Trung ương các nước có mức xếp hạng từ AA trở lên phát hành hoặc bảo lãnh thanh toán.
Theo Bộ chỉ số lành mạnh tài chính của IMF (2001) được nhiều nước áp dụng, các chỉ số đánh giá sự lành mạnh về thanh khoản của ngân hàng bao gồm: - Chỉ số tài sản thanh khoản trên tổng tài sản – hệ số tài sản thanh khoản: Chỉ số này đo lường mức thanh khoản tài sản của tổ chức nhận tiền gửi. Nó cung cấp thông tin về khả năng đáp ứng nhu cầu rút tiền mặt dự tính và bất thường của khách hàng gửi tại tổ chức nhận tiền gửi. Mức độ thanh khoản càng cao cho thấy khả năng đối phó của tổ chức nhận tiền gửi trước những cú sốc càng lớn và ngược lại. - Tài sản thanh khoản trên nguồn vốn ngắn hạn: Chỉ tiêu này đo lường mức thanh khoản của tài sản so với nguồn vốn ngắn hạn và dùng để đánh giá khả năng cân đối giữa tài sản và nợ.
Đồng thời, chỉ tiêu này cũng cho biết khả năng đáp ứng việc rút vốn ngắn hạn của khách hàng mà không ảnh hưởng đến thanh khoản của tổ chức nhận tiền gửi. - Tổng tiền gửi của khách hàng so với tổng dư nợ: Chỉ số này đôi khi dùng để phát hiện vấn đề thanh khoản, nếu tỷ lệ thấp có thể cho thấy nguy cơ căng thẳng thanh khoản trong hệ thống ngân hàng, và có thể là dấu hiệu dẫn đến sự suy giảm niềm tin của người gửi tiền và nhà đầu tư vào hệ thống ngân hàng.