Chương 1 giúp người đọc hiểu điều khái quát về đề tài nghiên cứu và dễ dàng tìm hiểu nội dung ở những chương sau. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC NẮM GIỮ CÁC TÀI SẢN CÓ TÍNH THANH KHOẢN ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỢI TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 2.1: Tài sản có tính thanh khoản tại ngân hàng thƣơng mại 2.1: Khái niệm Có nhiều định nghĩa khác nhau về thanh khoản. Ủy Ban Basel về giám sát ngân hàng định nghĩa: “Thanh khoản của ngân hàng là khả năng đáp ứng nguồn vốn của ngân hàng để tài trợ tăng thêm tài sản và đáp ứng các nghĩa vụ nợ khi đến hạn mà không bị thiệt hại quá mức” (Basel, 2008). “Thanh khoản là khả năng tiếp cận các tài sản hoặc nguồn vốn có thể dùng để chi trả với chi phí hợp lý ngay khi nhu cầu vốn phát sinh.
Một nguồn vốn được coi là có tính thanh khoản cao khi chi phí huy động thấp và thời gian huy động nhanh. Một tài sản được gọi là có tính thanh khoản cao khi chi phí chuyển hóa thành tiền thấp và có khả năng chuyển hóa ra tiền nhanh” (Trần Huy Hoàng, 2011, trang 232). Một tài sản có tính thanh khoản cao khi chi phí chuyển đổi tài sản đó thành tiền mặt thấp và thời gian chuyển đổi nhanh. Tương tự, nguồn vốn có tính thanh khoản cao khi chi phí huy động vốn thấp cùng với thời gian huy động nhanh.
Do đó, dựa trên cách tiếp cận cả về tài sản và nguồn vốn “Thanh khoản là khả năng tiếp cận các tài sản và nguồn vốn với một chi phí hợp l để phục vụ nhu cầu hoạt động khác nhau của ngân hàng”. (Trương Quang Thông, 2010) Việc đánh giá khả năng thanh khoản của ngân hàng được xem xét trên nhiều phương diện khác nhau. Trong ngắn hạn: khả năng thanh khoản là khả năng đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán tức thời tại thời điểm phát sinh nghĩa vụ thanh toán liên quan đến khả năng sinh lời và đảm bảo thanh khoản. Trong dài hạn: khả năng thanh khoản là khả năng huy động đủ nguồn vốn dài hạn với chi phí hợp lý nhằm đáp ứng cho việc gia tăng tài sản (thanh khoản theo cấu trúc, hiện rất được các ngân hàng chú trọng).
Như vậy, thanh khoản thể hiện khả năng đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 như đáp ứng nhu cầu rút tiền, cho vay các khoản vay, thực hiện các nhu cầu thanh toán, giao dịch vốn để phục vụ hoạt động kinh doanh của các ngân hàng tại từng thời điểm. Tính thanh khoản khác với khả năng thanh toán của NHTM ở tính chất thời điểm. Ngân hàng vẫn còn khả năng thanh toán trong điều kiện có vốn để trang trải các khoản chi phí, nhưng nếu không có khả năng thanh toán các khoản nợ vào thời điểm đến hạn thì ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng thiếu hụt thanh khoản. Như vậy, ngân hàng có thể mất khả năng thanh khoản trong khi vẫn có khả năng thanh toán.2: Cung thanh khoản, cầu thanh khoản và trạng thái thanh khoản.
Theo Trần Huy Hoàng (2011), các ngân hàng thương mại thường đo lường trạng thái thanh khoản thông qua trạng thái thanh khoản ròng NLP (Net liquidity position). Theo đó: NPL = Tổng cung thanh khoản - Tổng cầu thanh khoản Trong đó, Cung thanh khoản là khả năng cung ứng tiền của một ngân hàng thương mại nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán của khách hàng. Nguồn cung cấp thanh khoản cho ngân hàng bao gồm: các khoản tiền gửi sẽ nhận được, thu nhập từ việc cung cấp các dịch vụ, các khoản tín dụng sẽ thu về, bán các tài sản đang kinh doanh và sử dụng, vay mượn từ thị trường tiền tệ và phát hành các giấy tờ có giá. Cầu về thanh khoản là nhu cầu thanh toán của khách hàng mà ngân hàng có nghĩa vụ đáp ứng.
Cầu thanh khoản bao gồm nhu cầu rút tiền và nhu cầu vay tiền của khách hàng. Nhu cầu rút tiền gắn liền với tiền huy động được và nhu cầu vay tiền gắn liến với việc tạo ra các sản phẩm mới”. Nhu cầu về thanh khoản của ngân hàng bao gồm: Nhu cầu rút tiền của khách hàng đối với các khoản tiền gửi, nhu cầu vay vốn của khách hàng, các khoản lãi phải trả cho các khoản tiền gửi, các khoản vay đáp ứng cho các khoản phải trả khác, các khoản chi phí phục vụ cho việc tạo ra các sản phẩm và dịch vụ của ngân hàng, việc thanh toán cổ tức cho các cổ đông. Xét về yếu tố thời gian, nhu cầu thanh khoản của ngân hàng không chỉ trong ngắn hạn mà còn trong dài hạn.
Nhu cầu thanh khoản ngắn hạn mang tính chất tức thời đó là các khoản tiền gửi không kỳ hạn, các khoản tiền gửi tiết kiệm đến hạn. Để đáp ứng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 cho các nhu cầu thanh khoản ngắn hạn, các ngân hàng cần phải dự trữ các tài sản có tính thanh khoản cao như tiền mặt tại quỹ, các khoản tiền gửi tại NHNN và tiền gửi tại các định chế tài chính khác, trái phiếu chính phủ và tín phiếu kho bạc,… Nhu cầu thanh khoản dài hạn là các nhu cầu mang tính chất chu kỳ, mùa vụ như nhu cầu rút tiền vào các ngày cận kề với các ngày lễ hội trong năm, nhu cầu vay vốn vào các dịp cuối năm của các cá nhân. Để đáp ứng các nhu cầu thanh khoản dài hạn, các ngân hàng cần phải dự phòng khả năng cung cấp vốn từ các nguồn cung khác nhau như lên kế hoạch thu hút tiền gửi và huy động vốn trong dài hạn bằng các thỏa thuận vay vốn từ công chúng và các tổ chức. Trong trường hợp cầu thanh khoản vượt quá cung thanh khoản, ngân hàng sẽ gặp phải trạng thái thiếu hụt thanh khoản.
Khi đó, để vượt qua tình trạng thiếu hụt thanh khoản, ngân hàng phải xác định bổ sung nguồn cung thanh khoản từ nguồn nào và với chi phí bao nhiêu. Ngược lại, nếu cung thanh khoản vượt quá cầu thanh khoản, khi đó ngân hàng ở trạng thái dư thừa thanh khoản, các ngân hàng đang nắm giữ quá nhiều tài sản không sinh lời hoặc sinh lời thấp, ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi tại ngân hàng. Khi NLP = 0, ngân hàng đạt được trạng thái thanh khoản cân bằng. Tuy nhiên, trạng thái cân bằng về thanh khoản trên thực tế rất khó xảy ra bởi việc dự đoán chính xác tuyệt đối sự biến động về cung thanh khoản và cầu thanh khoản là rất khó.3: Vai trò của thanh khoản đối với ngân hàng thƣơng mại Khả năng thanh khoản thể hiện khả năng đáp ứng các nguồn vốn nhằm phục vụ cho việc thanh toán các nghĩa vụ đến hạn cũng như sự gia tăng tài sản có là điều cực kỳ quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của các ngân hàng.
Vì vậy, việc quản lý thanh khoản là một trong những hoạt động cần thiết và quan trọng nhất của các ngân hàng thương mại. Khả năng quản lý thanh khoản tốt sẽ giúp các ngân hàng giảm xác suất xảy ra những tổn thất do thiếu hụt thanh khoản, đáp ứng được các nhu cầu vốn để gia tăng các tài sản giúp các ngân hàng tận dụng được các cơ hội kinh doanh qua đó gia tăng lợi nhuận. Việc suy giảm hoặc mất khả năng thanh khoản của một ngân hàng không chỉ tác động đến chính hoạt động kinh doanh của ngân hàng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 đó mà còn có thể tác động đến toàn hệ thống ngân hàng. Vì vậy, việc quản lý thanh khoản đòi hỏi các nhà quản lý của ngân hàng không chỉ đo lường khả năng thanh khoản của ngân hàng một cách thường xuyên, đầy đủ mà còn phải xem xét các nhu cầu cấp vốn, các diễn biến của thanh khoản trong nhiều tình huống khác nhau bao gồm các điều kiện bất lợi để có biện pháp ứng phó kịp thời.
Ngân hàng luôn có nhu cầu thanh khoản rất lớn bởi ngân hàng thường xuyên huy động tiền gửi ngắn hạn với lãi suất thấp và dùng số tiền đó để cho vay với kỳ hạn dài hơn với mức lãi suất cao hơn. Do đó, cần phải có thanh khoản để đáp ứng các nhu cầu cho vay mới mà không cần phải thu hồi những khoản vay trong hạn hay phải thanh lý các tài sản, các khoản đầu tư có kỳ hạn bởi việc phải thanh lý các tài sản hoặc các khoản đầu tư có kỳ hạn trước hạn sẽ tốn chi phí và giảm tỷ suất sinh lợi của ngân hàng. Ngoài ra, cần phải có thanh khoản để đáp ứng tất cả các nhu cầu rút tiền hàng ngày hoặc theo mùa vụ một cách kịp thời và trật tự, ổn định.2: Tài sản có tính thanh khoản 2.1: Tính thanh khoản của tài sản Tính thanh khoản của tài sản là khả năng chuyển đổi thành tiền được đo lường bằng thời gian và chi phí. Tài sản có tính thanh khoản cao là các tài sản có chi phí chuyển đổi thành tiền thấp và thời gian chuyển đổi nhanh.
Tính thanh khoản của tài sản phản ánh rủi ro khi chuyển đổi thành tiền trong một khoảng thời gian nhất định. Tính thanh khoản của một tài sản phụ thuộc vào nhiều nhân tố và có thể thay đổi giữa các vùng, các nước. Tài sản được xem là có tính thanh khoản cao khi có các đặc điểm sau: - Phổ biến trên thị trường, khả năng chuyển hóa thành tiền một cách nhanh chóng và chi phí thấp. - Giá của tài sản ít biến động, có thể giao dịch một cách nhanh chóng và không giảm doanh thu.
- Người bán tài sản có thể mua lại chúng trên thị trường một cách dễ dàng với mức giá ít sự biến động so với mức giá đã bán ra, giúp họ khôi phục giá trị khoản đầu tư ban đầu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2: Các tài sản có tính thanh khoản - Tài sản ngân quỹ Là những loại tài sản không sinh lợi được nắm giữ chủ yếu nhằm mục đích đảm bảo dự trữ bắt buộc của Ngân hàng Nhà nước, đảm bảo khả năng thanh toán, chi trả cho người gửi tiền, thanh toán bù trừ và đáp ứng được nhu cầu vốn khả dụng của ngân hàng. Tiền mặt tại quỹ: là số tiền mặt mà các ngân hàng nắm giữ tại quỹ để đáp ứng các nhu cầu giao dịch mang tính chất thường xuyên, hàng ngày của mình. Trong trường hợp, số tiền mặt tại quỹ nhiều hơn so với nhu cầu giao dịch của mình, ngân hàng sẽ đem gửi số tiền đó vào NHNN hoặc ngân hàng đại l .