CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRƯỚC CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Cơ sở lý thuyết về thanh khoản 2.1 Khái niệm thanh khoản Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (2008) (Basel Committee on Bank Supervision, 2008), “thanh khoản là khả năng mà ngân hàng có thể tài trợ việc gia tăng của tài sản và đáp ứng các nghĩa vụ đến hạn mà không gây ra những khoản tổn thất không thể chấp nhận được”. Vấn đề thanh khoản của các ngân hàng chủ yếu và về cơ bản là vấn đề đảm bảo có đủ lượng tiền mặt dự trữ khi cần thiết, đáp ứng mọi nhu cầu về tiền mặt. Dưới góc độ NHTM: “thanh khoản là khả năng NHTM đáp ứng đầy đủ và kịp thời các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động giao dịch như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán và các hoạt động giao dịch tài chính khác” (Phạm Thành Đạt, 2017). Trong hoạt động kinh doanh, các ngân hàng thương mại phải có khả năng đáp ứng mọi nhu cầu về tiền mặt kể cả nhu cầu từ việc chuyển tiền giữa các ngân hàng khác trong hệ thống; và các ngân hàng nói chung phải có khả năng cung cấp bất kỳ nhu cầu nào được thực hiện đối với họ nhằm mục đích rút tiền ra khỏi hệ thống, cho dù ở nước ngoài hay để sử dụng trong lưu thông trong nước (Whittlesey, 1945).
Tính thanh khoản được hiểu là một đặc tính của tài sản có lẽ phản ánh cách tiếp cận phổ biến nhất đối với chủ đề này có từ thời Keynes. Trong trường hợp này, nó được hiểu là sự dễ dàng chuyển đổi một tài sản thành tiền mặt. Nói cách khác, một tài sản càng dễ bán thì nó càng có tính thanh khoản cao (Morawski, 2008). Tính thanh khoản là yếu tố cơ bản đối với sự thịnh vượng của các tổ chức tài chính, đặc biệt là ngân hàng.
Nó quyết định sự tăng trưởng và phát triển của các ngân hàng vì nó đảm bảo cho thị trường tài chính hoạt động tốt. Tính thanh khoản là vấn đề cốt lõi của ngân hàng (Caruana & Kodres, 2008). Do đó, khả năng tồn tại và hiệu quả của một ngân hàng bị ảnh hưởng rất nhiều bởi khả năng thanh khoản luôn sẵn sàng với số lượng đủ lớn. Các ngân hàng phải đáp ứng các nghĩa vụ đến 6 hạn và thực hiện các khoản thanh toán vào đúng ngày đến hạn, nếu không, các ngân hàng có nguy cơ bị tuyên bố là kém thanh khoản (Crocket, 2008).
Nói cách khác, nếu khả năng thực hiện tất cả các nghiệp vụ thanh toán đến hạn của NHTM có vấn đề thì có thể sẽ ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của NHTM. Vì hoạt động của ngân hàng liên quan đến việc thanh toán chủ yếu bằng tiền mặt nên tính thanh khoản của NHTM sẽ liên quan đến các dòng lưu chuyển tiền tệ. Việc không thực hiện được hoặc không hoàn thành nghĩa vụ thanh toán sẽ dẫn đến tình trạng thiếu khả năng thanh khoản hoặc mất khả năng thanh khoản tại ngân hàng (Phạm Thành Đạt, 2017). Ngoài ra, theo Duttweiler (2009), thanh khoản là sự chuyển đổi một cách dễ dàng thành tiền mặt từ một tài sản cụ thể.
Như vậy, xem xét dưới góc độ tài sản, tính thanh khoản của tài sản được đo lường thông qua thời gian và chi phí để chuyển hóa tài sản thành tiền. Tài sản có tính thanh khoản cao là tài sản chuyển đổi thành tiền nhanh và chi phí thấp (Nguyễn Bảo Huyền, 2016). Tuy nhiên, dưới góc độ quản trị ngân hàng, thanh khoản được hiểu là “khả năng ngân hàng đáp ứng kịp thời và đầy đủ các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán, và các giao dịch tài chính khác” (Nguyễn Văn Tiến, 2012). Thanh khoản đại diện cho khả năng NH có thể thực hiện tất cả các nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn (đến mức tối đa) và bằng đơn vị tiền tệ được quy định.
Do thực hiện bằng tiền nên thanh khoản chỉ liên quan đến các dòng lưu chuyển tiền tệ. Trong trường hợp, các ngân hàng không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán sẽ dẫn đến tình trạng thiếu khả năng thanh khoản (Nguyễn Bảo Huyền, 2016) và dẫn đến rủi ro thanh khoản trong hoạt động ngân hàng.2 Rủi ro thanh khoản 2.1 Khái niệm về rủi ro thanh khoản Theo định nghĩa của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (1997), rủi ro thanh khoản phát sinh khi ngân hàng không có khả năng đáp ứng với việc thanh toán các khoản nợ phải trả hoặc tài trợ cho sự gia tăng tài sản. Khi một ngân hàng 7 không đủ khả năng thanh khoản, ngân hàng không thể có đủ vốn, bằng cách tăng nợ phải trả hoặc bằng cách chuyển đổi tài sản kịp thời với chi phí hợp lý, do đó ảnh hưởng đến khả năng sinh lời. Theo Chaplin (2000): “Rủi ro thanh khoản là khả năng gây thiệt hại cho ngân hàng liên quan đến việc chuyển các tài sản tài chính thành tiền một cách nhanh chóng mà không chịu thất thoát về giá cả.” Vì vậy, RRTK có thể được định nghĩa là “nguy cơ NHTM mất khả năng thanh toán một nghĩa vụ nợ nào đó một cách kịp thời ở một mức giá hợp lý” (Muranaga, Ohsawa 2002).
Đến năm 2008, Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng chỉ ra rằng rủi ro thanh khoản xảy ra khi một tổ chức tài chính thiếu vốn để đáp ứng các nghĩa vụ của mình mà không ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh hàng ngày và tình hình tài chính của tổ chức đó (Ủy ban Basel, 2008). Do đó, các ngân hàng phải đối mặt với việc không cung cấp đủ tiền mặt cho các nhu cầu thanh khoản tức thời (ví dụ: không thể chuyển tài sản thành tiền mặt hoặc đi vay để đáp ứng nhu cầu thanh toán) hoặc tăng thanh khoản với chi phí cao (Tu T. Nguyen & Long Tran, 2019). Đối với khái niệm rủi ro thanh khoản, Duttweiler (2009) cho rằng rủi ro thanh khoản là rủi ro phát sinh khi NHTM không có khả năng thanh toán tại một thời điểm nào đó, hoặc phải huy động các nguồn vốn với chi phí cao để đáp ứng nhu cầu thanh toán, hoặc do các nguyên nhân khác làm mất khả năng thanh toán của NHTM, từ đó có thể kéo theo những tác động không tốt cho NHTM.
Ngoài ra, theo Jenkinson (2008): "Rủi ro thanh khoản của NHTM là rủi ro phát sinh từ sự mất khả năng đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn qua đó gây tổn thất đến tình hình tài chính của một ngân hàng." Từ trạng thái thâm hụt thanh khoản của NH, có thể hiểu RRTK xảy ra khi NH rơi vào tình trạng thiếu hoặc không đủ khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính thường xuyên (Nguyễn Bảo Huyền, 2016). Như vậy RRTK là loại rủi ro khi NH không có khả năng cung ứng đầy đủ lượng tiền cho nhu cầu thanh khoản tức thời; hoặc cung ứng đủ nhưng với chi phí cao. Nói cách khác, đây là loại rủi ro xuất hiện 8 trong trường hợp NH thiếu khả năng chi trả do không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền hoặc không thể vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán (Phan Thị Cúc, 2009).2 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản Nhiều nghiên cứu đã tương đối thống nhất khi chỉ ra rằng rủi ro thanh khoản có thể đến từ bên tài sản nợ hoặc tài sản có, hoặc từ hoạt động ngoại bảng của bảng cân đối tài sản của NHTM (Valla & Escorbiac, 2006; Vũ Thị Hồng, 2015; Phạm Thành Đạt, 2017). Ngoài ra, theo nghiên cứu của Duttweiler (2009), một trong những nguyên nhân chính của rủi ro thanh khoản là sự không phù hợp về thời hạn giữa tài sản và nợ ngân hàng, tức là huy động và vay vốn ngắn hạn trong khi cho vay và cấp tín dụng dài hạn.
Sự mất cân đối giữa kỳ hạn của tài sản và nợ dẫn đến mất cân đối giữa nguồn và sử dụng vốn là một trong những nguyên nhân dẫn đến mất khả năng thanh khoản. Theo Duttweiler (2009), ngân hàng thiếu ngân quỹ để đáp ứng các nhu cầu chi trả cho những người gửi tiền, hoặc thanh toán cho các khoản nợ ngắn hạn mà ngân hàng đã vay. Hai dạng trái chủ chính ở đây là công chúng và các NHTM khác, nơi mà ngân hàng có thể vay mượn những khoản nợ ngắn hạn trên thị trường liên ngân hàng. Rủi ro thanh khoản càng cao khi các trái chủ muốn rút vốn ngay lập tức.
Khi đó, ngân hàng phải tìm cách huy động các nguồn vốn bổ sung, hoặc tìm cách bán hay chuyển các tài sản thanh tiền mặt. Thế nhưng, các ngân hàng lại thường tìm cách tối thiểu hóa các khoản dự trữ tiền mặt vì chúng không sinh lợi. Để có được thu nhập lãi, các ngân hàng thường giữ các tài sản kém thanh khoản hoặc có thời gian đáo hạn dài hơn (Trương Quang Thông, 2013). Trong khi một số tài sản có khả năng chuyển đổi nhanh ra tiền mặt với một chi phí giao dịch hợp lý.
Nhưng lại có một cố tài sản khác chỉ có thể chuyển đổi nhanh ra tiền mặt với chi phí cao. Trong cơ cấu nguồn vốn của một NHTM tiêu biểu, thông thường có một tỷ lệ lớn các nghĩa vụ nợ ngắn hạn như tiền gửi trên tài khoản vãng lai, các khoản tiết kiệm ngắn hạn của công chúng, các khoản vay liên ngân hàng ngắn hạn. Các ngân hàng, theo kinh nghiệm của họ, biết rằng bình thường thì chỉ một phần nào đó tiền ký 9 thác trên tài khoản vãng lai được khách rút ra. Phần còn lại có thể được xem như ký thác lõi, tức là những khoản ký thác mà ngân hàng có thể xem như nguồn vốn ổn định mà họ có thể sử dụng với một kỳ hạn dài hơn so với bản chất không kỳ hạn của loại nguồn vốn này.
Hơn thế nữa, nhu cầu rút vốn ký thác cũng có thể được đáp ứng bằng những nguồn ký thác mới. Do đó, công việc thường nhật của nhà quản trị ngân hàng là phải biết cách điều chỉnh các luồng rút vốn ròng (chênh lệch giữa vốn ký thác và các nguồn ký thác mới) dựa trên một phân phối xác suất nào đó mà họ có được qua kinh nghiệm và thời gian. Rủi ro thanh khoản của ngân hàng có thể phát sinh từ các yếu tố ngoại sinh cũng như từ các yếu tố bên trong tổ chức ngân hàng (tức là từ các chính sách tài chính và hoạt động của ngân hàng) (Salman, 2004).