CHƯƠNG 1 KHUNG LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 1. ĐỊNH NGHĨA SỞ HỮU CHÉO 1. Sở hữu chéo trên thế giới Sở hữu chéo được định nghĩa là doanh nghiệp A sở hữu doanh nghiệp B và ngược lại doanh nghiệp B sở hữu doanh nghiệp A. Alberto Onetti và Alessia Pisoni (2009) định nghĩa sở hữu chéo ở Đức là việc các công ty, thuộc lĩnh vực công nghiệp và tài chính, nắm giữ lâu dài cổ phần của nhau.
Theo Scher (2001), sở hữu chéo ở Nhật Bản thường được hiểu là việc hai hoặc nhiều công ty nắm giữ cổ phần của nhau. Quan hệ sở hữu chéo giữa NH và DN có ở nhiều nước trên thế giới và được đúc kết nhiều nhất tại Đức và Nhật Bản. Trái lại, NH ở các quốc gia như Anh và Mỹ phần nhiều theo định hướng thị trường nên quan hệ sở hữu chéo không phổ biến. Lập luận ủng hộ cho rằng SHC giữa NH và DN làm giảm bất cân xứng thông tin, qua đó NH có thể hỗ trợ tốt hơn cho doanh nghiệp.
Alberto Onetti và Alessia Pisoni (2009) cho rằng SHC giữa NH, công ty bảo hiểm và các DN lớn và mối quan hệ gần gũi, liên kết giữa thành viên hội đồng quản trị của các công ty khác nhau là đặc điểm chính của mối quan hệ NH - DN ở Đức. Mô hình truyền thống này đã hỗ trợ dẫn dắt sự thành công của quá trình công nghiệp hóa ở Đức, góp phần tạo nên một nền tảng công nghiệp ổn định. Quan hệ sở hữu chéo với các NH đảm bảo cho các DN sự ổn định về sở hữu cùng tính liên tục trong quản trị doanh nghiệp. Đồng thời sở hữu chéo cho phép NH nắm giữ quyền lực quan trọng trong các DN từ đó tạo nên cho NH mạng lưới các mối quan hệ cá nhân, không phải luôn minh bạch, với một số nhất định các nhà điều hành của các công ty khác nhau.
Tuy nhiên Alberto Onetti và Alessia Pisoni (2009) cũng chỉ ra rằng, do ảnh hưởng của tiến trình toàn cầu hóa, đang hình thành một xu hướng hoạt động 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com theo định hướng thị trường của các NH Đức. Xu hướng truyền thống kiểm soát DN thông qua sở hữu chéo, mặc dù đang giữ vai trò lớn, theo xu thế đang dần giảm đi tầm quan trọng. Nghiên cứu về sở hữu chéo ở Nhật Bản có một số đặc thù. Các công ty ở Nhật Bản thường thiết lập quan hệ chặt chẽ với một NH (gọi là “main bank”).
Các NH này cho vay và mua cổ phần của các doanh nghiệp. Scher (2001) cho thấy hai lý do của việc tồn tại sở hữu chéo giữa NH và DN là duy trì mối quan hệ kinh doanh ổn định và duy trì yêu cầu đủ vốn. Mô hình “main bank” đã đóng một vai trò nhất định trong sự thịnh vượng của kinh tế Nhật Bản kể từ sau Chiến tranh thế giới 2. Tuy nhiên nghiên cứu của Scher cũng cho thấy mô hình “main bank” không còn phù hợp từ những năm 1990 do đã góp phần tạo nên hậu quả xấu cho nền kinh tế Nhật Bản.
Cụ thể, do các NH không những thực hiện không tốt vai trò giám sát các DN liên quan mà còn cấp một lượng tín dụng lớn, kém chất lượng cho các DN này. Hậu quả là các NH chịu những khoản nợ xấu lớn và bị suy giảm vốn chủ sở hữu. Thêm vào đó, việc giảm giá cổ phiếu của các DN liên quan mà NH nắm giữ sẽ ảnh hưởng đến tỷ lệ CAR của các NH theo Hiệp ước Basel. Sau những nỗ lực tái cấu trúc tài chính sau khủng hoảng, mức độ SHC trong các NH Nhật Bản đã giảm.
Cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997-1998 cũng đã cho thấy tác động tiêu cực của SHC tại các quốc gia Đông Á và là một trong những nguyên nhân dẫn đến nợ xấu NH và sụp đổ tài chính. Claessens, Djankov và Lang (1999) đã xác định rõ mối quan hệ sở hữu tại các DN lớn ở châu Á với các nghiên cứu tình huống về sở hữu chéo. Các DN sở hữu gia đình lớn ở châu Á đều nắm quyền kiểm soát các NHTM để có thể sử dụng các NH tài trợ cho các dự án của mình và các công ty có liên quan, đi ngược lại tinh thần các quy định nhằm bảo đảm an toàn hoạt động. Sở hữu chéo ở Việt Nam Gắn với phạm vi nghiên cứu của luận văn, sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng Việt Nam được xác định là sở hữu hai chiều giữa NH-NH, giữa DN- 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NH, giữa nhóm cổ đông và ngân hàng.
Định nghĩa này có thể được coi là sở hữu chéo một cách trực tiếp, nhưng sở hữu chéo có thể tồn tại một cách gián tiếp. Nếu một nhà đầu tư hoặc một nhóm các nhà đầu tư hay một doanh nghiệp sở hữu cả ngân hàng A và ngân hàng B thì thực chất ngân hàng A và ngân hàng B là sở hữu chéo của nhau. Theo báo cáo kinh tế vĩ mô 2012 của Ủy ban kinh tế Quốc hội, trong hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay, đang tồn tại 6 hình thức sở hữu chéo. Bao gồm: (i) Sở hữu của các NHTM nhà nước (NHTMNN) và NHTM nước ngoài tại các ngân hàng liên doanh; (ii) Cổ đông chiến lược nước ngoài tại các NHTM – cả nhà nước lẫn cổ phần; (iii) Cổ đông tại các NHTM là các công ty quản lý quỹ; (iv) Sở hữu của các NHTMNN tại các NHTM; (v) Sở hữu lẫn nhau giữa các NHTMCP; (vi) Sở hữu NHTMCP bởi các tập đoàn, tổng công ty nhà nước và tư nhân.
Ba nhóm sở hữu chéo đầu trên có tính tích cực vì các mối quan hệ này chủ yếu hướng đến việc tăng cường thúc đẩy hoạt động thương mại giữa các Việt Nam và quốc tế, nâng cao năng lực quản trị và thúc đẩy việc sử dụng vốn một cách có hiệu quả. Ba nhóm sau thường bị chi phối bởi các cổ đông lớn của các NHTMCP, các NHTMNN có thể ảnh hưởng đến các ngân hàng thuộc nhóm sau trong việc cung cấp vốn và tài trợ thương mại cho các doanh nghiệp thành viên, NHTM có cổ đông lớn là các doanh nghiệp, rất có thể các NHTM này trở thành sân sau, chuyên huy động vốn từ dân để tài trợ cho các dự án của doanh nghiệp cổ đông…Việc sở hữu chéo giữa các ngân hàng cũng tạo điều kiện để cho các doanh nghiệp sở hữu ngân hàng có thể dễ dàng vay vốn từ các ngân hàng có quan hệ sở hữu chéo khác. Ba hình thức sở hữu chéo sau được khái quát và minh họa bằng ba sơ đồ sở hữu để sử dụng làm khung phân tích thực trạng. Đó là SHC giữa NHTMNN và DNNN, giữa các NHTMCP và giữa DN và NH.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com SHC giữa NHTMNN và DNNN CHÍNH PHỦ NHNN Bộ Tài chính Sở hữu Quản lý Tái Sở hữu cấp vốn Cho vay chỉ định DNNN NHTMNN Cho vay quan hệ Giám sát Nguồn: Nguyễn Đức Mậu (2012) Hình 1.1: SHC giữa NHTMNN và DNNN Hình 1.1 minh họa việc DNNN và các NHTMNN có cùng chủ sở hữu. Điều này sẽ tạo xung đột trong các quyết định của Chính phủ trong việc giám sát hoạt động của NHTMNN. Một mặt NHTMNN phải tuân thủ khung giám sát để đảm bảo an toàn hoạt động. Mặt khác, NHTMNN phải chịu sự chỉ đạo của Chính phủ trong việc cho vay các dự án của các DNNN.
Là chủ sở hữu của NH, Chính phủ phải góp đủ vốn cho NHTMNN nhằm đáp ứng quy định về an toàn vốn. Tuy nhiên NHNN, một cơ quan của Chính phủ, lại là người giám sát việc thực hiện tuân thủ quy định này. Tình huống thường gặp về việc NHTMNN không tuân thủ khung giám sát liên quan đến quy định về dư nợ tín dụng tối đa cấp cho một khách hàng. Thực tế cho thấy những khoản cho vay, đầu tư của NHTMNN vào DNNN vượt tỷ lệ vừa nêu sẽ được trình lên Chính phủ và thường được phê duyệt.
Khung giám sát trong trường hợp này không có nhiều hiệu lực. Vì thực hiện theo chỉ đạo nên các 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khoản cấp tín dụng chỉ định cho DNNN sẽ tạo động cơ cho NHTMN không báo cáo đầy đủ về nợ xấu liên quan đến các khoản vay của DNNN. Sở hữu chéo giữa NHTMNN và DNNN cũng làm vô hiệu hoá quy định của khung giám sát về thanh khoản. Bởi vì NHTMNN luôn có một tâm lý ỷ lại lớn (moral hazard) khi biết rằng nếu mất thanh khoản NHTMNN sẽ luôn được Chính phủ chỉ đạo NHNN cho vay tái cấp vốn để giải cứu.
Việc không tuân thủ khung giám sát của NHTMNN để lại hậu quả sau cùng là Chính phủ phải dùng tiền đóng thuế của dân, những người uỷ quyền cho Chính phủ, giải cứu các NHTMNN. SHC giữa các NHTMCP Về mặt lý thuyết, SHC giữa các NHTMCP được minh hoạ bằng Hình 1. Cổ đông lớn Cho vay Sở hữu Cổ đông thiểu Cổ đông thiểu số số Sở hữu Ngân hàng A Ngân hàng B Giám Tái Người gửi tiền Người gửi tiền sát cấp vốn NHNN Nguồn: Nguyễn Đức Mậu (2012) Hình 1.2: SHC giữa hai NHTM Phân tích về SHC giữa NH A và NH B cho thấy tác động tiêu cực gây nên tổn thất cho các cổ đông thiểu số, người gửi tiền và cho toàn xã hội. Một hoặc một nhóm cổ đông sở hữu cổ phần chi phối NH A yêu cầu NH A góp vốn hoặc mua cổ phần lớn của NH B.
Do nắm cổ phần lớn ở NH B, NH A có 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thể cử người vào hội đồng quản trị (HĐQT) hay hỗ trợ nhân sự cao cấp tham gia điều hành. Do mối quan hệ chặt chẽ giữa cổ đông của NH A và NH B, xuất hiện các hành động rủi ro. NH B cho vay hoặc mua cổ phần của các công ty do cổ đông lớn của NH A sở hữu hoặc có liên quan. Bằng sở hữu chéo, các NHTM đã không vi phạm các quy định về các hạn chế nhằm bảo đảm an toàn hoạt động của NHTM.
Đó là các quy định về những trường hợp không được cấp tín dụng, hạn chế cấp tín dụng, giới hạn cấp tín dụng và quy định về giới hạn góp vốn, mua cổ phần. Đồng thời, theo lộ trình tăng vốn điều lệ của các NH theo quy định Nghị định 141 của Chính phủ, cổ đông của NH A có thể vay vốn từ NH B để góp vốn vào NH mình đang sở hữu. Việc đi vay để góp vốn vào các NHTM làm cho khung giám sát về vốn tự có tối thiểu mất hiệu lực.