Chương 1: Giới thiệu về luận văn. Trong chương này, tác giả giới thiệu tổng quát về đề tài nghiên cứu: Mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa khoa học của đề tài. Chương 2: Tổng quan về tác động của tủi ro tín dụng, khả năng thanh khoản và chu kỳ kinh tế đến thu nhập lãi cận biên của các ngân hàng thương mại. Trong chương này, tác giả sẽ giới thiệu tổng quan về thu nhập lãi cận biên, rủi ro tín dụng, khả năng thanh khoản và chu kỳ kinh tế của NHTM; sơ lược các kết quả nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới, Việt Nam về thu nhập lãi cận biên và tác động của rủi ro tín dụng, khả năng thanh khoản và chu kỳ kinh tế ảnh hưởng đến thu nhập lãi cận biên.
Chương 3: Thực trạng về thu nhập lãi cận biên, rủi ro tín dụng, khả năng thanh khoản và chu kỳ kinh tế của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Trong chương này, tác giả giới thiệu về Hệ thống ngân hàng Việt Nam, sơ lược hoạt động của Hệ thống ngân hàng Việt Nam và đánh giá tình hình thu nhập lãi cận biên của các NHTM Việt Nam từ năm 2007 đến năm 2016. Bên cạnh đó, tác giả cũng phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập lãi cận biên. Chương 4: Phương pháp, kết quả nghiên cứu về tác động của rủi ro tín dụng, khả năng thanh khoản và chu kỳ kinh tế đến thu nhập lãi cận biên của các ngân hàng thương mại Việt Nam.
Trong chương này, tác giả phân tích mối quan hệ và đưa ra kết quả hồi quy về ảnh hưởng của các yếu tố đến thu nhập lãi cận biên của các ngân hàng thương mại Việt Nam bằng việc sử dụng và lựa chọn các mô hình hồi quy. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Chương 5: Kết luận và khuyến nghị cho các ngân hàng thương mại Việt Nam. Trong chương này, tác giả đưa ra những kết luận về mô hình nghiên cứu được sử dụng trong chương 4. Dựa trên các kết luận, tác giả đưa ra những khuyến nghị cho các ngân hàng thương mại Việt Nam.
Bên cạnh đó, tác giả cũng đưa ra những hạn chế của đề tài và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo nhằm hoàn thiện hơn. Ý nghĩa khoa học của đề tài: Về mặt lý luận, luận văn đã tổng hợp, phân tích các lý thuyết về tác động của rủi ro tín dụng, khả năng thanh khoản và chu kỳ kinh tế đến thu nhập lãi cận biên của NHTM. Đồng thời, luận văn cũng đánh giá thực trạng về tình hình thu nhập lãi cận biên, rủi ro tín dụng, khả năng thanh khoản và chu kỳ kinh tế của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2007-2016. Kết hợp với việc đánh giá thực trạng, luận văn phân tích tác động của rủi ro tín dụng, khả năng thanh khoản và chu kỳ kinh tế đến thu nhập lãi cận biên của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2007-2016 thông qua các phương pháp hồi quy.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, rủi ro tín dụng, chu kỳ kinh tế có ảnh hưởng đến thu nhập lãi cận biên; khả năng thanh khoản không có ý nghĩa thống kê; ngoài ra, lạm phát, quy mô cho vay, hiệu quả quản lý, cấu trúc vốn, thị phần và tái cấu trúc cũng ảnh hưởng đến thu nhập lãi cận biên. Do đó, về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là đóng góp hữu ích giúp cho các NHTM đưa ra các giải pháp nhằm gia tăng thu nhập lãi cận biên. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 2CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA RỦI RO TÍN DỤNG, KHẢ NĂNG THANH KHOẢN VÀ CHU KỲ KINH TẾ ĐẾN THU NHẬP LÃI CẬN BIÊN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Trong chương này, tác giả sẽ trình bày cơ sở lý luận về thu nhập lãi cận biên, rủi ro tín dụng, khả năng thanh khoản và chu kỳ kinh tế. Đồng thời, tác giả cũng lược khảo các nghiên cứu về thu nhập lãi cận biên và các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập lãi cận biên; đặc biệt, là tác động của rủi ro tín dụng, khả năng thanh khoản và chu kỳ kinh tế đến thu nhập lãi cận biên.
Tổng quan về thu nhập lãi cận biên, rủi ro tín dụng, khả năng thanh khoản và chu kỳ kinh tế. Thu nhập lãi cận biên. Ngân hàng thương mại đã hình thành, tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển của hàng hóa. Sự phát triển của hệ thống NHTM đã tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hóa, ngược lại kinh tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trường thì NHTM càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu.
Thông qua hoạt động tín dụng thì NHTM tạo lợi ích cho người gửi tiền, người vay tiền và cho cả ngân hàng thông qua chênh lệch lãi suất mà thu được lợi nhuận cho ngân hàng. Theo Rose (2004), hoạt động ngân hàng thương mại gắn với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận trong giới hạn cho phép của rủi ro. Tuy nhiên, khả năng sinh lời là mục tiêu được các ngân hàng quan tâm hơn cả vì thu nhập cao sẽ giúp các ngân hàng có thể bảo toàn vốn, tăng khả năng mở rộng thị phần, thu hút vốn đầu tư. Theo Daft (2008), hiệu quả hoạt động là khả năng biến đổi các đầu vào có tính chất khan hiếm thành khả năng sinh lời hoặc giảm thiểu chi phí so với đối thủ cạnh tranh.
Điều này cho thấy lợi nhuận lời là một trong những yếu tố để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp phản ánh hiệu quả của việc sử dụng các yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất kinh doanh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 của doanh nghiệp, thường đo lường lợi nhuận của doanh nghiệp với các nhân tố khác tạo ra lợi nhuận như doanh thu, tài sản, vốn cổ phần…. Như vậy, hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại được hiểu là khả năng tạo ra lợi nhuận của ngân hàng đó và mối quan hệ giữa lợi nhuận và các nhân tố tạo ra lợi nhuận đó như tài sản hay vốn chủ sở hữu, chênh lệch đầu vào và đầu ra. Ngoài ra, với những đặc trưng trong hoạt động, ngoài việc xem xét đến khả năng tạo ra lợi nhuận cũng cần xem xét đến yếu tố rủi ro bởi nếu theo đuổi lợi nhuận nhưng không có sự kiểm soát rủi ro sẽ dễ tạo ra rủi ro hệ thống.
Để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thì hiệu quả tài chính là bộ phận quan trọng nhất. Hiệu quả tài chính là cơ sở vật chất đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Theo Mwangi (2014), tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả tài chính là chỉ tiêu lợi nhuận thu được từ các hoạt động kinh doanh ngân hàng như tỉ suất lợi nhuận ròng trên vốn tự có (ROE), lợi nhuận ròng trên tổng tài sản (ROA), thu nhập trên cổ phiếu (EPS), tỷ lệ thu nhập lãi cận biên,. Thu nhập lãi cận biên là một trong những thước đo quan trọng để đo lường hiệu quả tài chính trong một định chế nhận tiền gửi và cho vay.
Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của các ngân hàng được định nghĩa là chênh lệch giữa thu nhập lãi và chi phí lãi chia cho tổng tài sản của ngân hàng. Biên độ được tính cho một khoảng thời gian, một quý hoặc một năm, và được thể hiện bằng một tỷ lệ phần trăm (Rose, 2001). Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên: 𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑙ã𝑖 − 𝑐ℎ𝑖 𝑝ℎí 𝑙ã𝑖 𝑁𝐼𝑀 = 𝑥 100 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 Theo như đánh giá của Standard & Poor thì NIM dưới 3% được xem là thấp trong khi NIM lớn hơn 5% được xem là quá cao. Rủi ro tín dụng: Theo Fitch (2006): Rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi người đi vay không thanh toán nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ, là loại rủi ro chủ yếu trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Theo Santomero LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 (1997): Rủi ro tín dụng phát sinh từ việc không thực hiện nghĩa vụ của người đi vay và nó phát sinh từ việc không có khả năng hoặc không có thiện chí để thực hiện các điều khoản trong hợp đồng đã được cam kết trước. Heffernan (2004) định nghĩa rủi ro tín dụng là loại rủi ro mà người đi vay mất khả năng chi trả các khoản vay ngân hàng. Hầu hết các ngân hàng rơi vào tình trạng phá sản là do việc tăng quá cao tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ. Trong khi đó, Gup et al (2005) cho rằng rủi ro tín dụng là rủi ro xảy ra khi khách hàng mất khả năng chi trả trong hoạt động tín dụng, từ đó gây ra tổn thất cho ngân hàng.
Rủi ro tín dụng áp dụng cho cả các khoản vay, phái sinh, các giao dịch về tỷ giá hối đoái, danh mục đầu tư và các hoạt động tài chính khác. Đối với các khoản cho vay, thì rủi ro tín dụng xảy ra khi người đi vay mất khả năng chi trả các khoản vay, gây tổn thất cho người cho vay. Rủi ro tín dụng là tổn thất tiềm tàng có thể xảy ra đối với tổ chức tín dụng khi khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và/hoặc lãi khi đến hạn thanh toán theo cam kết với NHTM (Thông tư 02/2013/TT- NHNN). Như vậy, hoạt động tín dụng của NHTM sẽ càng rủi ro khi số lượng các khoản vay và dư nợ tín dụng đang có hiện tượng chậm trả lãi và/hoặc gốc từ phía khách hàng.
Khả năng thanh khoản. Theo Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS), thanh khoản được định nghĩa là khả năng của ngân hàng có được nguồn tiền cần thiết để đáp ứng các nghĩa vụ khi đến hạn mà không phải chịu bất kỳ tổn thất đáng kể. Theo Mwangi (2014) thanh khoản là khả năng của ngân hàng đáp ứng cho việc tăng tài sản và nhu cầu tiền mặt, kể cả những nghĩa vụ pháp lý khác với chi phí hợp lý và không xảy ra tổn thất. Thanh khoản đề cập đến khả năng của ngân hàng đáp ứng được các nghĩa vụ, chủ yếu là đối với người gửi tiền.