Chương 1 đã trình bày được tổng quan các vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu như mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, giới hạn nghiên cứu…Bên cạnh đó, tác giả cũng đã trình bày được ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu cũng như đưa ra kết cấu luận văn để có thể giúp người đọc rõ hơn về đề tài nghiên cứu cũng như định hướng luận văn đi đúng kết cấu ban đầu đã đề ra. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO THANH KHOẢN VÀ KHẢ NĂNG PHÁ SẢN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. Cơ sở lý thuyết về thanh khoản của ngân hàng thương mại 2. Khái niệm thanh khoản của ngân hàng thương mại Thanh khoản là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong nhiều lĩnh vực liên quan đến tài chính.
Dưới góc độ tài sản nói chung, tính thanh khoản (hay còn gọi là tính lỏng) là một thuật ngữ kinh doanh dùng để chỉ khả năng có thể nhanh chóng mua hoặc bán các loại tài sản đó trên thị trường mà không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố giá cả. Và khoảng thời gian để mua và bán thường là ngắn hạn. Một tài sản được xem là có tính thanh khoản khi đáp ứng được các chỉ tiêu sau: có sẵn số lượng để mua hoặc bán, có sẵn thị trường giao dịch, có sẵn thời gian giao dịch và giá cả tương đối hợp lý1. Dưới góc độ doanh nghiệp, thanh khoản được hiểu là lượng tiền và tương đương tiền mà doanh nghiệp đang sở hữu.
Còn dưới góc độ ngân hàng, theo bộ quy tắc của Basel “Nguyên tắc quản lý và giám sát rủi ro thanh khoản” được ban hành vào tháng 09/2008 thì “thanh khoản được định nghĩa là khả năng của ngân hàng vừa có thể tăng thêm tài sản vừa đáp ứng các nghĩa vụ nợ khi đến hạn mà không bị những thiệt hại quá mức cho phép”. Theo tác giả Trần Huy Hoàng (2010) “thanh khoản được định nghĩa là khả năng tiếp cận các tài sản hoặc nguồn vốn có thể dùng để chi trả với chi phí hợp lý ngay khi nhu cầu vốn phát sinh”. Tác giả Kimberly Amadeo (2013) định nghĩa thanh khoản là khả năng chuyển hóa tài sản thành tiền một cách nhanh chóng và đáp ứng được nhu cầu ngắn hạn của khách hàng mà không gặp bất cứ rủi ro nào. Nói tóm lại, một cách ngắn gọn, thanh khoản của ngân hàng là khả năng mà ngân hàng có thể tiếp cận được các loại tài sản hoặc là nguồn vốn có sẵn để thực hiện tất cả các nghĩa vụ thanh toán đến hạn cũng như là đáp ứng được tất cả các yêu cầu của khách hàng khi có nhu cầu vốn phát sinh.
1 Nguyễn Văn Tiến (2009), Ngân hàng thương mại, NXB Thống Kê, trang 450 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Cung, cầu thanh khoản và trạng thái thanh khoản ròng 2. Cung thanh khoản là gì? Cung thanh khoản chính là khả năng cung ứng tiền của một ngân hàng thương mại nhằm đáp ứng được nhu cầu thanh toán cho khách hàng, bao gồm việc giữ tài sản và khả năng huy động mới2. Nguồn cung cấp thanh khoản cho ngân hàng bao gồm: - Tiền gửi của khách hàng; - Tiền hoàn trả tín dụng của khách hàng; - Tiền đi vay mượn trên thị trường tiền tệ; - Tiền thu nhập từ bán tài sản; - Doanh thu từ việc cung cấp dịch vụ; - Tiền thu về từ phát hành cổ phiếu ra thị trường; - Thu hồi từ xử lý các TSĐB nợ vay… Nguồn cung từ tiền gửi của khách hàng được xem là nguồn cung quan trọng và thường chiếm tỷ lệ cao nhất trong cơ cấu cung thanh khoản.
Cung thanh khoản chịu tác động bởi các yếu tố như: các quy định và chính sách tiền tệ của NHNN, các điều kiện kinh tế vĩ mô, hoạt động của các thị trường khác có liên quan như thị trường chứng khoán phái sinh… 2. Cầu thanh khoản là gì? Cầu thanh khoản là nhu cầu rút tiền của khách hàng mà ngân hàng có nghĩa vụ phải đáp ứng3. Cầu thanh khoản bao gồm các khoản sau: - Nhu cầu rút tiền gửi của khách hàng; - Nhu cầu vay tiền của khách hàng; - Hoàn trả các khoản vay đến hạn; - Chi phí cung ứng dịch vụ; - Chi phí lãi vay và lãi từ huy động vốn; - Thanh toán cổ tức cho cổ đông; - Mua lại cổ phiếu;… 2 Nguyễn Văn Tiến (2009), Toàn tập Quản Trị NHTM, NXB Thống Kê, trang 1052 3 Nguyễn Văn Tiến (2009), Toàn tập Quản Trị NHTM, NXB Thống Kê, trang 1052 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Nhu cầu rút tiền gửi của khách hàng là nhu cầu có tính thường xuyên, liên tục bao gồm các loại tiền gửi không kì hạn, tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn đến hạn và có thể rút trước hạn. Trong đó quan trọng là tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi thanh toán, ngân hàng bắt buộc luôn phải đảm bảo một khoản tiền đủ để đáp ứng cho nhu cầu rút tiền của khách hàng và đây được xem là nhu cầu thanh khoản quan trọng nhất của ngân hàng vì việc chậm trễ hoặc không đáp ứng đủ nhu cầu này sẽ gây tâm lý hoang mang cho khách hàng, từ đó có thể dẫn đến hành động rút tiền hàng loạt ra khỏi ngân hàng, đẩy ngân hàng vào tình trạng khó khăn thanh khoản, đe dọa đến sự an toàn trong hoạt động của ngân hàng.
Nhu cầu thanh khoản của một ngân hàng bao gồm cả trong ngắn hạn và dài hạn. Nhu cầu thanh khoản ngắn hạn mang tính tức thời, bao gồm các khoản tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn đến hạn, tiền gửi thanh toán, các công cụ huy động thuộc thị trường tiền tệ…Đây là loại nhu cầu quan trọng nên đòi hỏi ngân hàng cần phải duy trì một lượng lớn các tài sản có tính thanh khoản cao như tiền mặt tại quỹ, tiền gửi NHTW và các định chế tài chính khác để đáp ứng đủ nhu cầu này. Nhu cầu thanh khoản dài hạn bao gồm các nhu cầu rút tiền hay nhu cầu vay mới của khách hàng. Để đáp ứng loại nhu cầu này ngân hàng cần phải dự phòng trước khả năng cung cấp vốn từ nhiều nguồn khác nhau.
Cũng tương tự như cung thanh khoản, cầu thanh khoản cũng chịu tác động bởi các điều kiện kinh tế vĩ mô như tăng trưởng kinh tế, lạm phát. Bên cạnh đó, nó còn chịu tác động bởi lãi suất huy động, lãi suất cho vay, sự khác biệt về lợi tức giữa các khoản tiền gửi và các cơ hội đầu tư khác… 2. Trạng thái thanh khoản ròng? Trạng thái thanh khoản ròng (NLP - Net Liquidity Position) là chênh lệch giữa tổng cung thanh khoản và tổng cầu thanh khoản tại một thời điểm được tính theo công thức sau: NLP = Tổng cung thanh khoản – Tổng cầu thanh khoản Có ba trường hợp xảy ra: Nếu NLP > 0, nghĩa là tổng cung thanh khoản > tổng cầu thanh khoản, ngân hàng đang trong trạng thái thặng dư thanh khoản, điều này chứng tỏ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 rằng ngân hàng hoạt động không hiệu quả vì đang dư thừa tiền dự trữ không sinh lời. NLP = 0, đây là trạng thái thanh khoản cân bằng, nghĩa là nguồn cung thanh khoản đáp ứng đủ nhu cầu thanh khoản.
Tuy nhiên trạng thái này hiếm và rất khó xảy ra trong thực tiễn. NLP < 0, tổng cung thanh khoản < tổng cầu thanh khoản, ngân hàng đang trong trạng thái thâm hụt thanh khoản, thiếu hụt tiền để đáp ứng cho các nhu cầu vốn của khách hàng. Nếu tình hình này kéo dài và không được cải thiện thì nó sẽ đe dọa đến an toàn hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Vì vậy, ngân hàng cần phải tìm nguồn để bổ sung thiếu hụt thanh khoản hợp lý nhất để đưa ngân hàng trở lại trạng thái cân bằng thanh khoản.
Cơ sở lý thuyết về rủi ro thanh khoản của các NHTM 2. Khái niệm về rủi ro thanh khoản Rủi ro thanh khoản xuất hiện khi ngân hàng rơi vào trạng thái thiếu hụt thanh khoản (NLP<0), tức là ngân hàng không có đủ tài sản thanh khoản hoặc không chuyển đổi kịp thời các tài sản thanh khoản ra tiền, hoặc không thể vay mượn để đáp ứng được nhu cầu thanh khoản tức thời, hoặc là cung cấp đủ nhưng với chi phí quá cao4. Theo định nghĩa của Ủy ban Basel, “RRTK là rủi ro mà một định chế tài chính không đủ khả năng tìm kiếm đầy đủ nguồn vốn để đáp ứng các nghĩa vụ đến hạn mà không làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh hằng ngày và cũng không gây tác động đến tình hình tài chính của định chế tài chính đó”5. Thông thường, khái niệm về RRTK được hiểu với kỳ hạn ngắn hạn vì đối với các kỳ hạn trung hoặc dài hạn, các ngân hàng thường có đủ thời gian để huy động, vay mượn các nguồn vốn khác nhằm ứng phó với tình trạng mất cân đối giữa cung và cầu thanh khoản.
Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản, nó có thể là các nguyên nhân 4 Phan Thị Cúc (2009), Quản trị ngân hàng thương mại 5 Basel (2008), Nguyên tắc quản lý và giám sát rủi ro thanh khoản LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 chủ quan, khách quan, các nguyên nhân đến từ phía ngân hàng, khách hàng, từ các cơ chế chính sách của nhà nước, môi trường kinh tế vĩ mô…Trong luận văn này, tác giả sẽ phân tích các nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản theo 2 hướng chủ quan và khách quan6: 2. Nguyên nhân chủ quan Sự bất cân xứng giữa kỳ hạn huy động và kỳ hạn cho vay: ngân hàng thường huy động các khoản tiền gửi ngắn hạn và dùng số tiền này để cho vay trung dài hạn. Thời gian cho vay dài hơn thời gian huy động nên đã có sự bất cân xứng giữa dòng tiền vào và ra để đáp ứng được nhu cầu thanh toán khi đến hạn của các khoản tiền gửi từ dân chúng. Từ đó, tạo ra sự bất cân xứng về kỳ hạn.
Nếu dòng tiền cho vay không kịp thời thu hồi đủ để đáp ứng cho nhu cầu thanh toán thì sẽ gây ra khó khăn thanh khoản cho ngân hàng và nếu tình trạng này kéo dài thì nguy cơ dẫn đến rủi ro thanh khoản là rất cao.