Chương 1: Giới thiệu. - Chương 2: Cơ sở lý luận về tác động của rủi ro tín dụng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại. - Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu. - Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
- Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA RỦI RO TÍN DỤNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI Mục tiêu của luận văn là nghiên cứu tác động của RRTD đến hiệu quả HĐKD của các NHTM Việt Nam. Như vậy, trong chương này tác giả sẽ trình bày khung lý thuyết làm nền tảng cho nghiên cứu bao gồm lý thuyết về RRTD, về hiệu quả HĐKD và tác động của RRTD đến hiệu quả HĐKD ngân hàng. Bên cạnh đó, các nghiên cứu thực nghiệm về tác động tác động của RRTD đến hiệu quả HĐKD ngân hàng cũng sẽ được trình bày cụ thể và chi tiết để làm nền tảng cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu thực nghiệm ở chương sau.
Rủi ro tín dụng 2. Khái niệm rủi ro tín dụng Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, tín dụng là hoạt động cơ bản, đem lại nguồn lợi nhuận chủ yếu cho các ngân hàng nhưng cũng là nghiệp vụ tiềm ẩn nhiều rủi ro và đó là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây tổn thất và ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả kinh doanh ngân hàng. Có nhiều khái niệm khác nhau về RRTD: Theo hai nhà kinh tế Henie và Sonja (1999) thì: “RRTD được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng, đây là thuộc tính vốn có của hoạt động ngân hàng. RRTD tức là việc chi trả bị trì hoãn, hoặc tồi tệ hơn là không chi trả được toàn bộ.
Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng”. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Theo Ủy ban giám sát Basel (2000) có đề cập “RRTD là khả năng bên vay nợ ngân hàng hoặc bên đối tác không đáp ứng nghĩa vụ thanh toán theo các điều khoản đã thỏa thuận”. Ở Việt Nam theo thông tư số 02/2013/TT–NHNN do NHNN Việt Nam ban hành ngày 21/01/2013 quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng (TCTD), chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì RRTD được định nghĩa là: “RRTD trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Có thể thấy các khái niệm về RRTD khá đa dạng nhưng tựu trung lại chúng ta có thể rút ra một số nội dung cơ bản về RRTD như sau: - RRTD xảy ra trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, khi người đi vay trễ hẹn hoặc trường hợp xấu hơn là không trả được nợ hoặc trả nợ không đầy đủ theo hợp đồng đã ký kết, bao gồm cả vốn gốc hoặc lãi phát sinh.
Hiểu theo nghĩa rộng hơn thì RRTD sẽ xuất hiện trong các mối quan hệ, khi ngân hàng sử dụng nguồn vốn huy động để cấp tín dụng cho khách hàng với nguyên tắc có hoàn trả thông qua các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá, bảo lãnh ngân hàng, bao thanh toán và các nghiệp vụ khác có liên quan. - RRTD là một yếu tố mang tính khách quan. Vì vậy, RRTD không thể nào tránh khỏi, nó luôn tồn tại song hành cùng với hoạt động kinh doanh của ngân hàng và chỉ có thể có những giải pháp phòng ngừa và hạn chế các tác động chứ không thể loại trừ. - RRTD là rủi ro chủ yếu trong hoạt động kinh doanh ngân hàng.
RRTD xuất hiện sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận cũng như hiệu quả kinh doanh ngân hàng và có thể là nguyên nhân dẫn đến các rủi ro khác gây nên hậu quả nghiêm trọng và phá vỡ tính cân đối và ổn định trong hoạt động của NHTM. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phân loại rủi ro tín dụng Tùy theo mục đích và yêu cầu nghiên cứu mà RRTD được phân loại theo nhiều cách khác nhau. Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh, RRTD được phân thành rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục.
Rủi ro giao dịch Đây là một hình thức của RRTD có nguyên nhân phát sinh từ những hạn chế trong quá trình giao dịch và đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ. - Rủi ro lựa chọn là loại rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá phân tích tín dụng khi ngân hàng lựa chọn phương án cho vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay. - Rủi ro đảm bảo là rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị tài sản đảm bảo.
- Rủi ro nghiệp vụ xuất hiện trong công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề. Rủi ro danh mục Đây là hình thức của RRTD có nguyên nhân phát sinh do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân thành rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. - Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố, đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó bắt nguồn từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn.
- Rủi ro tập trung là những trường hợp khi ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng hay cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế, hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định, cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Quá trình phát sinh rủi ro tín dụng Khi khách hàng vay vốn gặp khó khăn, khả năng thanh toán suy giảm, dẫn đến thất thoát vốn, phá sản, không khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay ngân hàng, khi đó RRTD sẽ xảy ra. Có bốn trường hợp đối với nợ lãi và nợ gốc: Đó là không thu được lãi, không thu được vốn, không thu đủ lãi và không thu đủ vốn cho vay Không thu được lãi đúng hạn, nguy cơ rủi ro chỉ ở mức thấp và chỉ cần đưa vào mục phát sinh lãi treo.
Trong trường hợp ngân hàng không thu đủ lãi thì sẽ phát sinh lãi treo đóng băng. Còn khi không thu đủ vốn cho vay, ngân hàng sẽ có khoản nợ khó đòi. Và nợ quá hạn sẽ phát sinh khi không thu được vốn.1: Quá trình phát sinh rủi ro tín dụng Khách hàng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ Không Không thu Không Không thu thu được vốn thu đủ vốn được lãi đủ lãi Phát Phát sinh Phát sinh lãi Phát sinh sinh nợ quá hạn treo đóng nợ khó đòi lãi treo băng Rủi ro tín dụng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Chỉ tiêu đo lƣờng rủi ro tín dụng 2.
Tỷ lệ nợ xấu Theo Quyết định phân loại nợ của Việt Nam thì các khoản nợ được chia thành năm nhóm như sau: - Nợ quá hạn dưới 10 ngày: Nợ đủ tiêu chuẩn - Nợ quá hạn từ 10 đến 90 ngày: Nợ cần chú ý - Nợ quá hạn từ 91 đến 180 ngày: Nợ dưới tiêu chuẩn - Nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày: Nợ nghi ngờ - Nợ quá hạn trên 360 ngày: Nợ có khả năng mất vốn Và nợ xấu là những khoản nợ được xếp vào nhóm 3, 4 và 5. Đây là những khoản nợ có vấn đề, không lành mạnh, khó hoặc không thể đòi. Tỷ lệ nợ xấu được xác định theo công thức sau: Đây là chỉ tiêu quan trọng để đo lường RRTD của NHTM. Tỷ lệ nợ xấu càng cao thì RRTD càng lớn, nguy cơ khách hàng không trả được nợ cho ngân hàng rất lớn, ngân hàng có thể mất vốn, suy giảm doanh thu và lợi nhuận.
Theo Ngân hàng thế giới, tỷ lệ này ở dưới mức 5% là có thể chấp nhận được. Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng Dự phòng RRTD là khoản chi phí dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra do khách hàng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ ngân hàng theo cam kết. Dự phòng RRTD được hoạch toán vào chi phí hoạt động của ngân hàng. Trích lập dự phòng là phương thức kiểm soát tổn thất tín dụng, phát hiện và bù đắp RRTD.
RRTD cao sẽ dẫn đến dự phòng RRTD cao. Dự phòng RRTD được tính trên số dư nợ gốc của khách hàng bao gồm: - Dự phòng cụ thể: để bảo hiểm rủi ro cụ thể cho từng khoản vay - Dự phòng chung: bảo hiểm các rủi ro chung không xác định trong danh mục tín dụng. Việc sử dụng dự phòng được sử dụng theo nguyên tắc là sử dụng dự phòng cụ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 thể đối với từng khoản nợ trước, phát mại tài sản đảm bảo để thu hồi nợ và cuối cùng nếu phát mại tài sản không đủ thu hồi nợ thì mới sử dụng dự phòng chung. Tỷ lệ dự phòng RRTD được tính theo công thức: 2.
Nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng Có nhiều nguyên nhân dẫn đến RRTD và có thể phân chia chúng thành hai nhóm nguyên nhân: nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan. Nguyên nhân khách quan đến từ môi trường chính trị, pháp lý, môi trường kinh doanh hay từ chính khách hàng vay vốn. Nguyên nhân chủ quan là do bắt nguồn từ nội bộ ngân hàng như chính sách tín dụng thiếu minh bạch, trình độ nhân viên hay năng lực cán bộ quản lý yếu kém… 2. Nguyên nhân chủ quan - Do quy trình cho vay của ngân hàng chưa rõ ràng chặt chẽ, không đủ thông tin để thực hiện phân tích đánh giá khách hàng, xếp loại RRTD dẫn đến việc lựa chọn khách hàng kém kỹ càng, đồng thời xác định sai điều kiện vay và khả năng trả nợ của khách hàng.