Chương 1 của luận văn đã trình bày tổng quan các mục tiêu cần đạt được và đặt ra các câu hỏi nghiên cứu cần giải quyết, với phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong các phần tiếp theo đây của luận văn, tác giả sẽ lần lượt trả lời từng câu hỏi nghiên cứu để đạt được mục tiêu cuối cùng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Nợ xấu của NHTM Khái niệm nợ xấu: - Theo nhóm chuyên gia tư vấn Advisory Expert Group của Liên Hợp Quốc (AEG 2004): “Một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”. - Theo Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (Basel Committee on Banking Supervision, 2002): “Nợ xấu sẽ bao gồm toàn bộ các khoản cho vay đã quá hạn 90 ngày và hoặc có dấu hiệu người đi vay không trả được nợ”. - Theo Tổ chức Tiền tệ Thế giới (IMF’s Compilation Guide on Financial Soundness Indicators (2006)): “Một khoản vay được coi là nợ xấu khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại, hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy những dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ (người vay phá sản).
Sau khi khoản vay được xếp vào danh mục nợ xấu, nó hoặc bất cứ khoản vay thay thế nào cũng nên được xếp vào danh mục nợ xấu cho tới thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi được lãi và gốc của khoản vay đó hoặc thu hồi được khoản vay thay thế”. Theo Thông tư số 14/2014/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng: “Nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (dưới chuẩn), nhóm 4 (nghi ngờ) và nhóm 5 (có khả năng mất vốn)”. Theo đó nợ nhóm 3 trở xuống gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày, đồng thời các ngân LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 hàng thương mại căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng để hạch toán các khoản vay vào các nhóm thích hợp. Tóm lại, Nợ xấu là chỉ tiêu rất quan trọng để đánh giá chất lượng trong hoạt động tín dụng của các Ngân hàng thương mại, từ đó có thể đo lường được sức mạnh tài chính, khả năng quản trị kiểm soát rủi ro,… của các Ngân hàng thương mại đó.
Nợ xấu tăng cao có thể dẫn đến việc lợi nhuận hay khả năng sinh lời của Ngân hàng thương mại bị sụt giảm và đồng thời không còn khả năng huy động vốn từ người thừa tiền, ảnh hưởng nghiêm trọng đến lòng tín nhiệm của dân chúng. Tình trạng này kéo dài sẽ khiến Ngân hàng thương mại rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán, và nếu không được hỗ trợ từ Ngân hàng nhà nước, hệ thống toàn bộ ngân hàng có thể sẽ sụp đổ dây chuyền ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế quốc gia. Trên cơ sở lý thuyết, nguyên nhân dẫn đến nợ xấu xuất phát từ nhiều yếu tố: nội tại các NHTM, khách hàng vay và do các yếu tố khách quan. Cụ thể: Nguyên nhân xuất phát từ nội tại NHTM (Phan Thị Thu Hà, 2009 và Nguyễn Văn Tiến, 2013): - Ngân hàng không thu thập đầy đủ các thông tin hoặc thu thập không chính xác để phân tích và đánh giá phương án/dự án vay vốn, uy tín năng lực trả nợ của khách hàng, đề ra mức phê duyệt tín dụng khi xác định sai hiệu quả phương án/dự án vay, đồng thời xác định thời hạn cho vay không phù hợp với dòng tiền về từ phương án/dự án và năng lực trả nợ thực tế của khách hàng.
- Rủi ro về đạo đức trong nghề nghiệp cùng năng lực chuyên môn của cán bộ tín dụng chưa đáp ứng yêu cầu trong công tác ngành; phát sinh tiêu cực trong quy trình thẩm định, xét duyệt và theo dõi nợ vay. - Quy trình quản lý rủi ro còn lỏng lẻo, không thực hiện hoặc cố tình bỏ qua các bước kiểm tra trước, trong và sau khi giải ngân vốn, không kịp thời báo cáo tham mưu cho lãnh đạo ngân hàng khi phát hiện vốn vay đã sử dụng sai mục đích. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 - Sự cạnh tranh trong hoạt động tín dụng giữa các ngân hàng thương mại dưới áp lực chỉ tiêu kế hoạch dẫn đến việc chạy theo tăng trưởng qui mô, bỏ qua các tiêu chuẩn, điều kiện cho vay dẫn đến chất lượng khoản cho vay không có, từ đó nguy cơ xảy ra nợ xấu là điều tất yếu, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng tín dụng, hiệu quả kinh doanh và tín nhiệm của ngân hàng thương mại. Nguyên nhân xuất phát từ khách hàng vay vốn (Nguyễn Minh Kiều, 2009): - Khách hàng vay là đơn vị kinh doanh có nhiều hạn chế trong năng lực quản lý, đầu tư vào nhiều lĩnh vực mà chưa nắm rõ đặc thù ngành/tham gia ngành khi có quá nhiều đối thủ cạnh tranh; qui mô kinh doanh không phù hợp, cung cấp các thông tin báo cáo tài chính sơ sài hoặc cố tình tạo lập báo cáo tài chính khác so với thực tế dẫn đến tình trạng hoạt động lỗ vốn, phương án/dự án vay thất bại.
- Khách hàng vay là cá nhân vay vốn phục vụ mục đích tiêu dùng, tuy nhiên có gian lận trong quá trình khai báo, cung cấp hồ sơ năng lực tài chính, cấu kết với cán bộ ngân hàng dẫn đến việc sử dụng vốn sai mục đích, không cân đối được năng lực trả nợ dẫn đến khoản vay bị rơi vào tình trạng quá hạn. Nguyên nhân xuất phát từ khách quan (Nguyễn Văn Tiến, 2013): - Môi trường pháp lý chưa hoàn thiện, cơ quan giám sát chưa thực hiện tốt vai trò. - Cơ chế quản lý nhà nước còn nhiều bất cập trong các đề án kinh tế, các doanh nghiệp nhà nước được áp dụng vay vốn không tài sản bảo đảm khi hoạt động bị thua lỗ, mất vốn dẫn đến mất khả năng chi trả nợ vay ngân hàng. - Những nguyên nhân bất khả kháng khác như khủng hoảng kinh tế, thiên tai… 2.2 Khả năng sinh lời của Ngân hàng Thương mại Khái niệm khả năng sinh lời: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Khả năng sinh lời là một yếu tố gắn liền với lợi ích ở thời điểm hiện tại và dự báo tương lai của các nhà quản trị tài chính, các nhà đầu tư cho tới các tổ chức cho vay, đồng thời là một trong những cơ sở tham khảo để ra quyết định đầu tư, cho vay hay các quyết định tài chính khác sao cho phù hợp.
Trong hoạt động kinh doanh, khả năng sinh lợi nhuận là đích đến cuối cùng của bất kỳ cá nhân/tổ chức nào, giống như tất cả các chỉ số tài chính khác, mỗi tỷ lệ đo lường khả năng sinh lời được sử dụng trong từng trường hợp khác nhau. Để đánh giá khả năng sinh lời, nhà phân tích có thể sử dụng nhiều chỉ số khác nhau. Aremu, Mukaila Ayanda và cộng sự (2013), nghiên cứu về khả năng sinh lời là rất quan trọng không chỉ vì thông tin mà nó cung cấp sẽ nói lên được sức khoẻ tài chính của nền kinh tế không chỉ ở một năm, mà còn bởi vì khả năng sinh lời là yếu tố then chốt quyết định sự tăng trưởng trong trung hạn. Sự thay đổi về khả năng tạo ra lợi nhuận là một đóng góp quan trọng cho tiến bộ kinh tế thông qua ảnh hưởng của lợi nhuận đối với các quyết định đầu tư của các công ty.
Điều này là do sự gia tăng lợi nhuận làm tăng vị thế dòng tiền của các công ty và cung cấp sự linh hoạt hơn trong nguồn tài chính cho đầu tư của doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu của Alexiou, C. (2009) đã cho thấy hai chỉ số ROA và ROE là thước đo về khả năng sinh lời của các NHTM. Hai chỉ tiêu được sử dụng rộng rãi để đo lường khả năng sinh lời hay hiệu quả kinh doanh của NHTM là ROA và ROE (Nguyễn Thị Ngọc Trang, Nguyễn Thị Liên Hoa, 2007), trong đó ROA là một thông số nói lên tính hiệu quả trong quản lý tài sản, nó chỉ ra khả năng chuyển hóa tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng.
Ngược lại, ROE là một chỉ tiêu đo lường tỷ lệ thu nhập cho các cổ đông của ngân hàng, nó thể hiện mức thu nhập mà các cổ đông nhận được từ việc đầu tư vốn vào ngân hàng thương mại. Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (Return on Equity - ROE) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑏ì𝑛ℎ 𝑞𝑢â𝑛 ROE được tính theo công thức: ROE = 𝑉ố𝑛 𝑐ℎủ 𝑠ở ℎữ𝑢 𝑏ì𝑛ℎ 𝑞𝑢â𝑛 ROE chính là chỉ số phản ánh hiệu quả của vốn chủ sở hữu. Nói cách khác, tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu là chỉ số đo lường hiệu quả đầu tư của vốn chủ sở hữu. Lợi nhuận trên tổng tài sản (Return on Assets - ROA) ROA là chỉ số đo lường khả năng các NHTM quản lý, sử dụng các nguồn lực tài chính để tạo ra lợi nhuận.
𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑏ì𝑛ℎ 𝑞𝑢â𝑛 Tương tự ROE, ROA được tính theo công thức: ROA = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑏ì𝑛ℎ 𝑞𝑢â𝑛 Theo giáo trình Ngân Hàng Thương Mại của tác giả Phan Thị Thu Hà (2013), để đo lường hiệu quả hoạt động hay khả năng sinh lời của ngân hàng thì ngoài chỉ số ROA và ROE còn có thể sử dụng: tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM), tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên, tỷ lệ thu nhập hoạt động cận biên.3 Tác động của nợ xấu đến khả năng sinh lời : Xuất phát từ mối quan hệ ngược chiều giữa lợi nhuận và rủi ro, NHTM muốn thu được lợi nhuận từ hoạt động cho vay thì NHTM phải chấp nhận đối mặt với khả năng phát sinh nợ xấu. Nợ xấu ở mức cao sẽ khiến doanh nghiệp càng thêm khó khăn trong việc tiếp cận vốn ngân hàng, còn lợi nhuận ngân hàng thì sẽ ngày càng giảm sút.