Chương 1: Cơ sở lí luận về di dân. Chương 2: Hiện trạng di dân ở TP. HCM và tác động của nó đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Chương 3: Định hƣớng và giải pháp di dân ở TP.
Kết luận 12 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ DI DÂN Di dân là một hiện tƣợng KT - XH, mang tính quy luật khách quan, gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội loài ngƣời với những thay đổi của tự nhiên, xã hội và sự phát triển không đồng đều về KT - XH giữa các vùng, các nƣớc trên thế giới. Nhƣng quá trình di dân có những nét khác biệt giữa các nƣớc và các vùng về hƣớng, quy mô cũng nhƣ hiệu quả kinh tế - xã hội của nó. Vì vậy, vấn đề cơ sở lí luận về di dân cần phải đƣợc nghiên cứu kĩ lƣỡng đồng thời cần phải có những công trình nghiên cứu đánh giá cụ thể các luồng di dân quốc tế cũng nhƣ trong nội bộ từng nƣớc, từng khu vực để phát huy những ảnh hƣởng tích cực, khắc phục những mặt tiêu cực của quá trình này. Những vấn đề lí luận về di dân 1.
Khái niệm di dân 1. Di dân Di dân làm thay đổi bức tranh phân bố dân cƣ trên trái đất, nó dẫn tới sự phân bố lại lao động theo lãnh thổ và làm ảnh hƣởng đến hàng loạt các vấn đề kinh tế - xã hội, cũng nhƣ môi trƣờng của các vùng. Theo nghĩa rộng, di dân đƣợc hiểu là sự chuyển động cơ học của dân cƣ. Nhƣ vậy, bất cứ sự chuyển động nào của con ngƣời trong không gian gắn với sự thay đổi vị trí theo lãnh thổ cũng đƣợc coi là di dân [124], theo E.
Breev: "Di dân hiểu theo nghĩa rộng là bất kì một sự di chuyển nào của con người giữa các vùng lãnh thổ có gắn với sự thay đổi vị trí, dạng hoạt động lao động và ngành có sử dụng lao động". 13 Nhìn chung khái niệm trên còn coi trọng sự chuyển dịch trong không gian mà chƣa chú ý đúng mức đến sự thay đổi nơi cƣ trú, cũng nhƣ mục đích và thòi gian di chuyển không đƣợc đề cập đến. Thuật ngữ di dân theo nghĩa rộng đƣợc hiểu là sự chuyển dịch dân cƣ theo lãnh thổ, sự phân bố lại dân cƣ. Tuy nhiên không phải bất kì sự chuyển dịch nào của dân cƣ cũng là di dân, mà di dân là sự di chuyển của dân cƣ ra khỏi biên giới đất nƣớc hay ra khỏi lãnh thổ hành chính mà họ đang cƣ trú, gắn liền với việc thay đổi chỗ ở của họ.
Nhƣ vậy, những chuyển động hàng ngày của dân cƣ từ nơi ở đến nơi làm việc, đi chợ, thăm viếng họ hàng, tham quan du lịch không thuộc vào di dân theo khái niệm này. Song trong nhiều trƣờng hợp chúng ta vẫn gặp khái niệm di dân con lắc, tức là sự di chuyển lao động của các vùng nông thôn xung quanh hoặc từ các thành phố nhỏ đến các thành phố lớn để làm việc mà không thay đổi chỗ ở. Nhiều tác giả đã có sự thống nhất khái niệm di dân theo nghĩa hẹp của từ, nhƣ V. Perevedensev (1966) coi di dân là "tổng hợp sự di chuyển của con ngƣời gắn liền với sự thay đổi chỗ ở".Popovkin (1973): "Di dân được hiểu là sự thay đổi nơi thường trú của con người với tổng hợp thể các nhân tố và nguyên nhân chính".
Năm 1958 Liên Hiệp Quốc có đƣa ra khái niệm: "Di dân là sự di chuyển trong không gian của con người giữa một đơn vị địa l í hành chính này vào một đơn vị địa l í hành chính khác, kèm theo sự thay đổi chỗ ở thường xuyên trong khoảng di dân xác định". 14 Trong khái niệm di dân của Liên Hiệp Quốc đã nhấn mạnh di dân là sự di chuyển của con ngƣời kèm theo sự thay đổi chỗ ở của họ. Nhƣ vậy, những ngƣời sống lang thang "dân du mục", những ngƣời đi du lịch, di dân kiểu con lắc trong khoảng thời gian ngắn đều không đƣợc coi là di dân theo khái niệm này [89]. Năm 1973 Liên Hiệp Quốc đƣa ra khái niệm di dân dài hạn và di dân ngắn hạn.
Di dân dài hạn là ngƣời di dân đến nơi ở mới từ 12 tháng trở lên, ngƣợc lại di dân ngắn hạn dƣới 12 tháng. Tuy nhiên theo một số tác giả thì: "Khái niệm này cũng bộc lộ nhược điểm là người di dân sau khi đến nơi ở mới do nhiều lí do khác nhau có thể thay đổi ý định và do đó không thể coi là di dân dài hạn.'' Nhƣng nếu ngƣời di chuyển đến nơi ở mới với sự cƣ ngụ ở nơi đó trên 12 tháng có thể coi là di dân dài hạn, nếu ngƣời di chuyển đó có nhà cửa (nơi cƣ trú) cố định và công việc làm ổn định, có ý định ở lại nơi đó lâu dài. Tóm lại di dân có các đặc điểm sau: • Thứ nhất: Con ngƣời di chuyển khỏi nơi cƣ trú thƣờng xuyên đến một nơi nào đó với một khoảng cách nhất định, nơi đến phải xác định. Khoảng cách giữa hai đơn vị hành chính gọi là độ dài di chuyển.
• Thứ hai: Ngƣời di chuyển có mục đích, họ rời nơi ở cũ đến nơi ở mới, thực hiện mục đích của mình. • Thứ ba: Thời gian ở lại nơi mới phải kéo dài trong khoảng thời gian xác định tối thiểu phải từ 6 tháng trở lên mới xác định sự di chuyển đó là di dân. Ngoài ra có thể nhận biết di dân qua một đặc điểm nữa đó là sự di chuyển nơi ở và thay đổi nơi làm việc, nghề nghiệp và các hoạt động sinh sống hằng ngày. Thuật ngữ "di dân" có thể hiểu đồng nghĩa với "di cƣ", "chuyển cƣ" đều là sự di chuyển nơi cƣ trú thƣờng xuyên của con ngƣời.
Nhƣng di dân không 15 hoàn toàn đồng nghĩa với thuật ngữ di chuyển vì không phải sự di chuyển nào cũng kèm theo sự thay đổi chỗ ở của con ngƣời. Về khoảng cách di dân cũng có nhiều quan niệm khác nhau, nhƣng theo nhiều tác giả ở các nƣớc và theo khái niệm di dân trong "Cẩm nang dân số đô thị và đô thị hóa ở Hà Nội", thì di dân là sự di chuyển của dân cƣ ra khỏi ranh giới quận, huyện. Trong Tổng điều tra dân số và nhà ở 1999, tính số ngƣời di cƣ trong khoảng thời gian 5 năm 1994 -1999. Ngƣời di cƣ có thể xác định theo cấp hành chính: di cƣ trong cùng huyện (nhƣ vậy di chuyển nơi ở khỏi ranh giới xã đã đƣợc coi là di cƣ); di cƣ giữa các huyện, và di cƣ giữa các tỉnh [7].
Trong tài liệu Báo cáo kết quả điều tra di dân tự do vào TP. HCM của VKT năm 1996 thì ngƣời nhập cƣ đƣợc xác định là ngƣời di chuyển có độ tuổi từ 13 trở lên, nơi thƣờng trú tại thời điểm 1/4/ 1986 không phải là TP. HCM, tức là ngƣời mới chuyển đến trong 10 năm trở lại đây, không phân biệt có hay không có hộ khẩu thƣờng trú. Những ngƣời còn lại đƣợc định nghĩa là ngƣời không di chuyển.
Về khoảng cách di dân theo quan niệm của Tổng điều tra dân số và nhà ở, đã đƣợc nghiên cứu chi tiết ở cả không gian nhỏ nhất từ đơn vị cấp phƣờng xã đến huyện, tỉnh, vùng.Trong quá trình di chuyển của dân cƣ sẽ hình thành nên các nhóm ngƣời di cƣ, các vùng xuất cƣ, các vùng nhập cƣ. Vùng xuất cư (nơi đi): là vùng có dân cƣ chuyển đi nhiều hơn dân từ nơi khác đến. Vùng nhập cư (nơi đến): là vùng có dân cƣ từ nơi khác đến nhiều hơn dân cƣ chuyển đi nơi khác. Người nhập cư: là ngƣời từ nơi khác chuyển cƣ tới nơi ở mới.
Người xuất cư: là ngƣời chuyển cƣ khỏi nơi ở cũ. Gia tăng cơ học (chênh lệch di dân): là chênh lệch số ngƣời đến và số ngƣời đi khỏi một vùng nhất định. 16 Tỉ lệ gia tăng cơ học: "tỉ lệ di dân thuần túy" (được tính bằng %) là tỉ lệ giữa số chênh lệch ngƣời nhập cƣ và ngƣời xuất cƣ khỏi vùng tính trung bình so với 100 ngƣời dân của vùng đó. Các nhân tố tác động đến di dân: E.Ravenstein (năm 1885), ngƣời đầu tiên đƣa ra học thuyết về di dân trên cơ sở nghiên cứu các luồng di dân ở nƣớc Anh, ông đã đƣa ra lí thuyết di dân với nội dung cơ bản nhƣ sau: - Hầu hết các cuộc di chuyển của dân cƣ diễn ra trong khoảng cách ngắn.
- Nữ giới tham gia di dân nhiều hơn nam giới trong khoảng cách ngắn. - Mỗi dòng di dân đều có dòng di dân ngƣợc lại. - Di dân từ nông thôn đến thành phố chủ yếu diễn ra theo từng giai đoạn. - Động lực thúc đẩy chủ yếu di dân là do kinh tế.
Nhƣ vậy, ông đã đƣa ra nguyên nhân thúc đẩy chính đối với ngƣời di dân là do kinh tế. Sau đó, nhiều nhà nghiên cứu giải thích quá trình di dân do tác động của lực hút, lực đẩy, lực hấp dẫn là những yếu tố thúc đẩy ngƣời di cƣ quyết định rời vùng cƣ trú cũ và thu hút họ đến vùng cƣ trú mới. Một số tác giả tập trung khái quát hóa những hiện tƣợng di dân trên thực tế, dựa vào những xu hƣớng di dân, để nêu lên những đặc trƣng di dân thông qua mô hình toán học [23]. • Lí thuyết theo lực hút và lực đẩy: Lipton (1976) khi nghiên cứu những ngƣời di cƣ từ nông thôn đã chia họ ra làm hai nhóm chính: Nhóm thứ nhất là những ngƣời nghèo khổ thiếu ruộng đất, ít học hành bị tác động của "lực đẩy" ra khỏi vùng, đến các đô thị hoặc đến các vùng nông thôn khác kiếm kế sinh nhai.
Nhóm thứ hai là những ngƣời tƣơng đối khá giả có học vấn, thƣờng bị tác động của "lực hút" từ các vùng đô thị hoặc các vùng có điều kiện phát triển kinh tế lôi cuốn đi [30]. 17 Nhƣ vậy, ngoài những khác biệt về điều kiện môi trƣờng và tài nguyên thiên nhiên, thì sự chênh lệch trong sự phát triển giữa các vùng là nhân tố đặc biệt nổi bật. Sự khác biệt này sẽ làm nảy sinh lực đẩy từ vùng kém thuận lợi hơn và lực hút ở các vùng có điều kiện tự nhiên, KT - XH thuận lợi hơn, từ đó tạo ra các yếu tố thúc đẩy quá trình di dân giữa các vùng. Cũng cần nhấn mạnh rằng, thƣờng thì ngƣời di dân, đặc biệt là ngƣời nghèo khổ tham gia di dân đều chịu tác động đồng thời của cả "lực đẩy" và "lực hút".