LỜI MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết Giáo dục, đào tạo được coi là quốc sách hàng đầu, từ khi ra đời giáo dục đã trở thành một trong những yếu tố cơ bản thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội một trong 11 những động lực quan trọng góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước. Việc duy trì mức tăng trưởng kinh tế để đất nước luôn phát triển là điều quan trọng mà mọi quốc gia đang thực hiện. Tăng trưởng kinh tế thúc đẩy việc làm, cải thiện thu nhập và giảm nghèo nhanh. Từ giữa thế kỷ XX, các nhà khoa học bắt đầu đưa yếu tố con người vào mô hình tăng trưởng.
Vai trò của chi tiêu cho giáo dục đã góp phần cải thiện nguồn nhân lực, từ đó tri thức trở thành nguồn vốn quý nhất. Nghiên cứu trước của tác giả Đinh Phi Hổ (2016) đã kết luận khi tăng 1% giá trị của chi tiêu ngân sách cho giáo dục sẽ dẫn đến GDP của các tỉnh thành tăng tương ứng là 0,1033%. Vì thế, chi tiêu cho giáo dục luôn nhận được sự quan tâm từ cấp chính quyền đến địa phương cũng như của toàn xã hội (Phạm Đình Long & Lương Thị Mai Nhân, 2018). Trải qua những chuyển biến về công cuộc đổi mới sau 25 năm xây dựng và phát triển Bình Dương từ một tỉnh với kinh tế nông nghiệp là chủ yếu đã từng bước chuyển mình trở nên phát triển năng động, là trung tâm công nghiệp - đô thị hiện đại, đầu mối quan trọng gắn kết các tỉnh, thành phố trong vùng ở Đông Nam Bộ.
Hiện quy mô kinh tế của Bình Dương đạt trên 412,5 nghìn tỷ đồng, gấp 105,3 lần so với năm 1997, GRDP bình quân đầu người đạt trên 7.000 USD/người, đứng thứ hai cả nước về thu hút đầu tư nước ngoài (năm 2022). Ngoài việc tập trung phát triển kinh tế Bình Dương đặc biệt quan tâm đến giáo dục hiện nay tỉnh Bình Dương có 8 trường đại học cùng 86 cơ sở giáo dục nghề nghiệp, đã góp phần đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực. Đến cuối năm 2022, tỷ lệ lao động qua đào tạo của tỉnh đạt 82%, trong đó lao động có bằng cấp, chứng chỉ đạt 32% cao hơn bình quân chung cả nước. Tỷ lệ lao động sau đào tạo có việc làm phù hợp với kỹ năng nghề và trình độ đào tạo tăng, góp phần hình thành đội ngũ lao động chất lượng, tay nghề cao, phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.
Tuy nhiên quy mô đào tạo trình độ đại học, sau đại học vẫn còn hạn chế, tỷ lệ giảng viên cơ hữu có trình độ tiến sỹ thấp hơn mức bình quân trong khu vực và cả nước; chất lượng và số lượng đào tạo vẫn còn khiêm tốn, chỉ mới đáp ứng được một phần yêu cầu của thị trường lao động, đặc biệt là các ngành nghề mà tỉnh và vùng đang cần (Minh Hào, 2023) Hiện nay đã có nhiều nghiên cứu về quá trình tăng trưởng và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tăng trưởng tuy nhiên việc giáo dục ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế vẫn là câu hỏi cần được trả lời. Do đó cần nghiên cứu một cách có hệ thống ảnh hưởng 12 của “giáo dục” với quá trình tăng trưởng kinh tế tỉnh Bình Dương. Việc đi sâu vào xem xét yếu tố này giúp Bình Dương thành tỉnh hoàn thiện tốt nhất trong việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.Chính vì vậy, chủ thể mà nhóm em đề xuất trong dự định nghiên cứu này là “ Thực trạng đầu tư giáo dục ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế Bình Dương” , Thông qua bài nghiên cứu này nhóm em muốn đưa ra những nhận định quan trọng đến tăng trưởng kinh tế, từ đó thấy được mối quan hệ to lớn và hiệu quả khi chi tiêu cho giáo dục. Nhằm mục tiêu cải thiện chất lượng giáo dục, đưa ra những giải pháp giúp nền kinh tế tỉnh Bình Dương phát triển bền vững hơn 2.Tổng quan tài liệu nghiên cứu liên quan đến đề tài 2.1 Nghiên cứu trong nước Theo luận văn nghiên cứu của Phạm Đình Long và Lương Thị Mai Nhân (2018) với bài nghiên cứu “ Tác động của giáo dục đến tăng trưởng kinh tế các tỉnh thành khu vực Miền Trung” với mô hình hiệu ứng cổ định, kết quả cho thấy: Thứ nhất, với mô hình tác động cố định, nghiên cứu đã kiểm chứng được tác động của giáo dục đối với tăng trưởng kinh tế các tỉnh, thành khu vực miền Trung giai đoạn 2006-2014.
Kết quả hồi quy mô hình nghiên cứu giải thích đóng góp của số năm đi học bình quân của lực lượng lao động, là khi tăng 1 đơn vị giá trị biến số năm đi học bình quân của lực lượng lao động thì GDP các tỉnh, thành tăng tương ứng là 17,35%. Từ đó cho thấy các tỉnh, thành khu vực miền Trung cần có chính sách nhằm gia tăng số năm đi học của lực lượng lao động để góp phần gia tăng sản lượng của nền kinh tế.Thứ hai, kết quả phân tích cho thấy các tỉnh thành khu vực miền Trung sử dụng hiệu quả nguồn vốn vật chất và nguồn lực lao động (Trương Thị Mai Nhân & Phạm Đình Long, 2018). Nghiên cứu của Trần Thọ Đạt (2011) với đề tài nghiên cứu “ Giáo dục và tăng trưởng kinh tế ở Đông Nam Á và Việt Nam” nghiên cứu về mối quan hệ giữa giáo dục và tăng trưởng kinh tế ở Đông Á và Việt Nam. Các nghiên cứu này chỉ ra rằng giáo dục đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế ở Đông Á.
Bài viết cũng tổng quan các kết quả nghiên cứu về vai trò của giáo dục đối với tăng trưởng ở Việt Nam, trong đó khẳng định giáo dục là một thành tố quan trọng góp phần gia tăng thu nhập, là một nhân tố phát triển và đề xuất một số kiến nghị chính sách nhằm thúc đẩy vai trò của giáo dục đối 13 với tăng trưởng.Số liệu thống kê cho thấy giáo dục phổ thông trong giai đoạn 1991-2008 đã mở rô n¢ g nhanh chóng.Cả nước đã đạt chuẩn quốc gia về xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, tỷ lệ người lớn biết chữ tăng từ 88% năm 1993 lên 90,3% năm 2002. Tỷ lê ¢ lao đô n¢ g mù chữ năm 2007 chỉ vào khoảng 4%. Giáo dục đại học và đào tạo nghề cũng có sự gia tăng nhanh về quy mô đào tạo nghề tăng lên 5 lần, đào tạo bâ c¢ đại học, cao đẳng tăng gấp 3 lần. Sự gia tăng về quy mô đào tạo nguồn nhân lực đã phần nào đáp ứng nhu cầu nhân lực theo mục tiêu tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, tính theo tỷ lệ GDP tăng từ 3% năm 2000 lên gần 6% trong năm 2008.
Chi tiêu tính theo tỷ lệ phần trăm tổng ngân sách nhà nước đã tăng đều đặn từ 15% năm 2000 lên 18,2% trong năm 2008 (PGS.TS Trần Thọ Đạt, 2011). Nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Cường (2020) với bài nghiên cứu “ Giáo dục và y tế ảnh hưởng tương tác của chúng lên tăng trưởng kinh tế Việt Nam” nghiên cứu tổng quan đã chỉ ra các nghiên cứu về ảnh hưởng tương tác của giáo dục và y tế đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam cũng chưa có nhiều và chưa sâu, đa số các nghiên cứu đều nhấn mạnh quan điểm rằng vốn con người là hàm số của tổng chỉ tiêu cho giáo dục và y tế và xác định chỉ tiêu công như một yếu tố quyết định của vốn con người, hoặc là cần nhắc một trong hai yếu tố chỉ cho y tế hoặc giáo dục. Tác giả đã lựa chọn sử dụng phương pháp định lượng, và các phương pháp đo lường các biển số: ước lượng số liệu mảng, phương pháp ước lượng moment tổng quát GMM. Luận án tập trung nghiên cứu về các chính sách giáo dục, y tế hiện hành; thực trạng chỉ tiêu cho giáo dục, y tế của nhà nước, tư nhân và tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 2011-2016.
Trong nhiều năm, tỷ trọng chỉ cho giáo dục đào tạo so với GDP tăng từ 4,1% năm 2011 lên 6,1% năm 2016; tỷ trọng của giáo dục đào tạo trong tổng chỉ ngân sách nhà nước tăng tương ứng từ 15,5% lên 21,4%. Quản lý ngân sách nhà nước cho giáo dục đào tạo đang ngày càng được phân cấp.Cơ cấu chi ngân sách nhà nước cho giáo dục đào tạo cũng đã được cải tiến theo hướng tập trung nhiều hơn cho các cấp học phổ cập, các vùng khó khăn, vùng dân tộc thiểu số (Nguyễn Mạnh Cường, 2020) Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thúy Hồng (2019) với bài nghiên cứu“ Tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, vai trò của chính sách khuyến khích giáo dục” Bài báo này sử dụng công cụ định lượng để đánh giá mức độ đóng góp của giáo dục đối với sự phát triển kinh tế 14 của Việt Nam kể từ khi Luật Giáo dục 2005 chính thức có hiệu lực. Kết quả nghiên cứu cho thấy ảnh hưởng nhất định của giáo dục và chính sách khuyến khích giáo dục đối với tăng trưởng kinh tế. Từ năm 2005 đến năm 2017, số năm đi học bình quân đã tăng từ 6,42 lên 8,56, phù hợp với chính sách phổ cập giáo dục trung học cơ sở.
Đến nay, khoảng 80% người Việt có bằng tốt nghiệp cấp 2. Theo đó, họ đã được đào tạo nghề cơ bản như tin học văn phòng, cơ khí,. có đủ điều kiện tham gia lực lượng lao động, hoạt động trong các cơ sở sản xuất, đóng góp vào GDP (Nguyễn Thị Thúy Hồng, 2019) Theo tạp chí Kinh tế và dự báo của tác giả Hoàng Thanh Nghị, Nguyễn Mạnh Cường (2018) với nghiên cứu “ Phân tích ảnh hưởng của giáo dục đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam” Theo bài báo giáo dục tác động đến tăng trưởng kinh tế theo ba cách. Cách thứ nhất là giáo dục cải thiện chất lượng của lực lượng lao động, dẫn đến tăng năng suất lao động, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế do sản lượng tăng.
Cách thứ hai là giáo dục tăng khả năng sáng tạo của nền kinh tế, tăng kiến thức về công nghệ mới, sản phẩm mới và quy trình sản xuất mới và những nhân tố này kết hợp dẫn đến tăng trưởng kinh tế. Cách thứ ba là giao dục có thể tạo điều kiện để phổ biến và chuyển giao kiến thức cần thiết để hiểu và xử lý thông tin mới và áp dụng công nghệ mới nhập khẩu từ các nước khác, dẫn đến tăng trưởng kinh tế.Một trong những thước đo quan trọng trình độ giáo dục của một nước là thời gian học tập ở trường phổ thông.Một tính toán cho rằng thời gian học phổ thông tăng một năm đóng góp 25% đến 73% tăng trưởng kinh tế.