Chương 1 đã trình bày lý do chọn đề tài cùng với mục đích nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Tiếp theo chương 2 sẽ trình bày các lý thuyết về các nguồn thu nhập của ngân hàng, các hình thức sở hữu ngân hàng và tổng kết lý thuyết về tác động của đa dạng hoá thu nhập đến lợi nhuận, rủi ro ngân hàng. 123doc 7 Chương 2: Cơ sở lý luận về thu nhập từ lãi, thu nhập ngoài lãi, đa dạng hóa nguồn thu và sở hữu nhà nước tác động đến lợi nhuận và rủi ro ngân hàng. Chương hai sẽ giới thiệu các khái niệm nghiên cứu về thu nhập từ lãi, thu nhập ngoài lãi, đa dạng hoá nguồn thu, sở hữu nhà nước tác động đến lợi nhuận và rủi ro ngân hàng.
Đồng thời tổng kết lý thuyết về tác động của đa dạng hoá thu nhập đến lợi nhuận, rủi ro ngân hàng. Các giả thuyết nghiên cứu cũng được xây dựng ở chương này dựa vào cơ sở lý thuyết tổng kết được.1 Thu nhập từ lãi, thu nhập ngoài lãi, các hình thức sở hữu, đa dạng hoá nguồn thu và sở hữu nhà nước tác động đến rủi ro và lợi nhuận ngân hàng. Thu nhập từ lãi và thu nhập ngoài lãi Báo cáo tài chính của các ngân hàng thể hiện cơ cấu quy mô tài sản, nguồn vốn, lợi nhuận của ngân hàng. Trong đó thu nhập bao gồm thu nhập lãi và thu nhập ngoài lãi.
Thu nhập từ lãi còn được gọi là thu nhập thuần bao gồm các hoạt động cấp tín dụng như cho vay, chiết khấu, bảo lãnh… Thu nhập từ lãi được tính bằng lãi thu được từ các hoạt động cấp tín dụng trừ cho chi phí lãi huy động trả cho khách hàng. Thu nhập ngoài lãi bao gồm các nguồn: thu nhập từ hoạt động uỷ thác, thu từ phí dịch vụ, thu từ dịch vụ kinh doanh ngoài lãi của ngân hàng, thu từ các khoản hoa hồng và phí khác (Stiroh, 2004). Theo báo cáo tài chính các tại các ngân hàng, thu nhập ngoài lãi là thu nhập đến từ các hoạt động kinh doanh không liên quan đến thu nhập lãi gồm thu từ dịch vụ, thu từ kinh doanh ngoại hối, thu từ kinh doanh chứng khoán, thu từ góp vốn mua cổ phần và thu từ hoạt động khác. Trong bài nghiên cứu này của tác giả, thu nhập ngoài lãi sẽ bằng tổng thu từ các nguồn: lãi thuần từ hoạt động dịch vụ, lãi thuần từ hoạt động kinh doanh ngoại hối, lãi thuần từ mua bán chứng khoán kinh doanh, lãi thuần từ mua bán chứng khoán đầu tư, lãi thuần từ các hoạt động khác, thu nhập từ góp vốn, mua cổ phần.
123doc 8 Đa dạng hóa nguồn thu Theo Mercieca (2007), đa dạng hóa ngân hàng bao gồm 3 khía cạnh: đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ, đa dạng hóa địa lý, kết hợp đa dạng hóa địa lý và ngành nghề kinh doanh. Đa dạng hóa nguồn thu trong ngân hàng là việc gia tăng tỷ lệ phí, tăng lợi nhuận từ các hoạt động kinh doanh và các thu nhập ngoài lãi khác của ngân hàng. Do vậy, tỷ trọng thu nhập ngoài lãi so với tổng thu nhập càng cao, ngân hàng có mức độ đa dạng hoá thu nhập càng cao và ngược lại. Đa dạng hóa nguồn thu ngân hàng thường kéo theo sự tăng lên của chi phí, lợi nhuận kinh doanh rỏng và thu nhập ngoài lãi khác trong thu nhập ròng từ hoạt động của một ngân hàng vì thế đa dạng hóa nguồn thu không mang lại lợi nhuận đáng kể.
Với lý thuyết tài chính thì đa dạng hóa các nguồn thu nhập trong một ngân hàng thường dẫn đến một mức độ rủi ro thấp hơn và hiệu suất của việc điều chỉnh rủi ro cao hơn. Bên cạnh đó đa dạng hóa nguồn thu nhập tại ngân hàng làm cho ngân hàng có thêm thu nhập và từ đó có thêm lợi nhuận cho ngân hàng. Động cơ của việc đa dạng hóa nguồn thu ngân hàng trong các nghiên cứu có thể tóm lược như sau: - Đa dạng hóa là cách phòng vệ để chống lại rủi ro vỡ nợ và giảm sự xuất hiện của cuộc khủng hoảng (Froot và Stein, 1998). - Đa dạng hóa là cơ chế để tăng lợi nhuận và hiệu quả hoạt động, nhất là quy mô và phạm vi hoạt động gia tăng (Landskroner và các cộng sự, 2005).
- Đa dạng hóa nguồn thu củng cố vai trò của ngân hàng do các ngân hàng có thể hạn chế thông tin bất cân xứng bằng cách sử dụng các thông tin cần thiết từ các mối quan hệ ngân hàng cho vay và làm gia tăng các dịch vụ tài chính khác (Stiroh, 2004). - Cũng theo Stiroh (2004) thu nhập ngoài lãi có thể giảm các biến động lợi nhuận, ổn định doanh thu và gia tăng thu nhập. Một số nghiên cứu của DeYoung và Roland (2001) cho rằng nguồn thu từ hoạt động ngoài lãi như phí dịch vụ thường là ổn định hơn thu nhập từ lãi vay nên rủi ro ngân hàng sẽ giảm xuống. Còn theo Lee và các cộng sự (2014) thì rủi ro ngân hàng có thể được giảm thông qua sự đa dạng hóa nguồn thu.
123doc 9 Hình thức sở hữu ngân hàng Theo luật các TCTD năm 2010 thì các NHTM Việt Nam có thể được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoặc công ty cổ phần. Theo Phan Thị Thu Hà (2013), phân loại ngân hàng theo hình thức sở hữu bao gồm: - Ngân hàng sở hữu tư nhân: Là ngân hàng do một cá thể thành lập bằng vốn cá nhân. Phạm vi hoạt động của ngân hàng sở hữu tư nhân thường tập trung ở từng địa phương mà thôi. - Ngân hàng sở hữu của các cổ đông: Ngân hàng cổ phần được thành lập thông qua phát hành cổ phiếu ra công chúng.
Việc nắm giữ cổ phiếu cho phép người sở hữu quyền được tham gia quyết định vào các hoạt động của ngân hàng, tham gia chia cổ tức từ thu nhập cũng như phải chịu tổn thất có thể xảy ra. Các ngân hàng cổ phần thường có quy mô lớn và có phạm vi hoạt động rộng, đa năng với nhiều chi nhánh hoặc công ty con. - Ngân hàng sở hữu nhà nước: Đây là loại hình ngân hàng mà vốn sở hữu do nhà nước cấp, có thể là nhà nước trung ương hoặc tỉnh, thành phố. Các ngân hàng thành lập nhằm thực hiện một số mục tiêu nhất định, theo chính sách của chính quyền trung ương hoặc địa phương quy định.
Với một số nước đi theo con đường phát triển xã hội chủ nghĩa, nhà nước thường có chính sách quốc hữu hóa các ngân hàng tư nhân hoặc các ngân hàng cổ phần, hoặc tự cấp vốn hình thành nên các ngân hàng sở hữu nhà nước. Những ngân hàng này được nhà nước hỗ trợ về tài chính và bảo lãnh phát hành giấy nợ, do vậy rất ít khi bị phá sản, tuy nhiên, trong nhiều trường hợp các ngân hàng này phải thực hiện các chính sách của nhà nước vì thế có thể dẫn đến bất lợi trong hoạt động kinh doanh. - Ngân hàng liên doanh: Ngân hàng này được hình thành trên góp vốn của hai hay nhiều bên, thường là giữa ngân hàng trong nước với ngân hàng nước ngoài để tận dụng lợi thế của nhau.1 Mô hình các hình thức sở hữu ngân hàng tại Việt Nam Nguồn: Ngân hàng nhà nước Việt Nam năm 2016 Tính đến năm 2016, tổng số lượng ngân hàng tại Việt Nam là 51 ngân hàng, trong đó có 31 NHTM cổ phần, 3 NHTM cổ phần nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ, và 4 NHTM nhà nước sở hữu 100% vốn cổ phần. Số lượng các NHTM cổ phần tăng trong giai đoạn từ năm 2006 – 2013, sau đó theo đề án “Cơ cấu lại các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 – 2015” với mục tiêu là xây dựng một hệ thống tổ chức tín dụng vững mạnh số lượng các NHTM cổ phần giảm dần.
Cụ thể là việc sáp nhập của ba NHTM cổ phần Đệ Nhất, Tín Nghĩa và Sài Gòn vào tháng 12/2011 để hình thành nên Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn, tiếp theo là NHTM cổ phần phát triển nhà Hà Nội bị sáp nhập vào Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội vào tháng 8/2012. Tháng 12/2013 NHTM cổ phần Đại Á đã sáp nhập với NHTM cổ phần phát triển thành phố Hồ Chí Minh. Tháng 5/2015, Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long sáp nhập vào NHTM cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV). Tháng 10/2015, NHTM cổ phần Phương Nam sáp nhập vào NHTM cổ phần Sài gòn Thương tín.
Bên cạnh đó, số lượng NHTM nhà nước cũng tăng lên nguyên nhân là do việc NHTM cổ phần xây dựng Việt Nam bị chuyển đổi thành ngân hàng TNHH MTV do nhà nước làm chủ sở hữu tháng 01/2015. Đến tháng 04/2015, NHTM cổ phần Đại Dương tiếp tục được nhà nước mua lại với giá 0 đồng. 123doc 11 Tháng 07/2015, NHTM cổ phần Dầu khí toàn cầu chính thức chuyển đổi mô hình hoạt động thành ngân hàng TNHH MTV do nhà nước làm chủ.2 Biểu đồ thể hiện số lượng các ngân hàng theo hình thức sở hữu tại Việt năm từ năm 2006-2016 Nguồn: Ngân hàng nhà nước Việt Nam Đa dạng hóa nguồn thu và sở hữu nhà nước ảnh hưởng đến rủi ro và lợi nhuận ngân hàng Thu nhập ngoài lãi có thể ít phụ thuộc vào công việc kinh doanh ngân hàng nói chung hơn thu nhập lãi thuần (Sanya và Wofle, 2010) do đó sự gia tăng phụ thuộc vào thu nhập ngoài lãi sẽ làm giảm sự biến đổi lợi nhuận và doanh thu của ngân hàng theo chu kỳ trong điều kiện nền kinh tế. Ngoài ra, các dòng sản phẩm mở rộng và các cơ hội bán chéo làm tăng thu nhập ngoài lãi và làm đa dạng hóa hơn trong danh mục đầu tư của ngân hàng.
Nếu thu nhập lãi thuần và tổng thu nhập có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực hoặc chỉ có tương quan yếu thôi, thu nhập ngoài lãi có thể đa dạng hóa nguồn thu ngân hàng và từ đó cải thiện được thu nhập và giảm thiểu rủi ro. Khả năng giảm rủi ro là một chủ đề quan trọng đối với các ngân hàng nói chung, cũng như các nhà điều hành và các cấp quản lý của ngân hàng nói 123doc 12 riêng. Nếu thu nhập ngoài lãi làm giảm tính bất ổn của lợi nhuận ngân hàng và giảm rủi ro, và do vậy làm giảm nhu cầu vốn đối với các ngân hàng trong danh mục đa dạng hóa doanh thu và người giám sát tái phân bổ nguồn lực khan hiếm một cách hợp lý hơn. Tương tự, chi phí giám sát ngân hàng gắn liền với sự rủi ro cũng được giảm xuống, do đó các ngân hàng có thêm động lực để giảm rủi ro.