chương 1, tác giả trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu. Xuất phát từ lý do chọn đề tài, tác giả xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Từ đó xác định mục tiêu và xây dựng các câu hỏi nghiên cứu cũng nhưng phương pháp nghiên cứu phù hợp để vận dụng trong luận văn. Nội dung này tạo tiền đề để tác giả nghiên cứu chuyên sâu hơn về cơ sở lý thuyết có liên quan trong chương tiếp theo của đề tài.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.1 Một số khái niệm cơ bản 2.1 Hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Có nhiều hướng tiếp cận khác nhau để đưa ra một khái niệm về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Thứ nhất, hiệu quả hoạt động có thể hiểu đó là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu đã đ t ra, nó biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được và những chi phí bỏ ra để có được kết quả đó, độ chênh lệch giữa hai đại lượng này càng lớn thì hiệu quả càng cao. Trên góc độ này thì hiệu quả đồng nhất với lợi nhuận của doanh nghiệp và khả năng đáp ứng về m t chất lượng của sản phẩm đối với nhu cầu của thị trường. Để đo lường hiệu quả theo hướng tiếp cận này, các nhà nghiên cứu thường sử dụng các mô hình phi tham số như DEA hay SFA.
Thứ hai, một số nghiên cứu trước đây cho r ng hiệu quả kinh doanh có thể hiểu đó chính là “phần chênh lệch tuyệt đối giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra để có được kết quả đó. Quan điểm này đã gắn kết được kết quả thu được với chi phí bỏ ra, coi hiệu quả kinh doanh là sự phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (các chi phí). Tuy nhiên, kết quả và chi phí là những đại lượng luôn vận động vì vậy quan điểm này còn bộc lộ nhiều hạn chế do chưa biểu hiện được mối tương quan về lượng và chất giữa kết quả và chi phí”. Theo hướng tiếp cận này các nghiên cứu sử dụng các ch tiêu như EBIT, EAT.
Thứ ba, hiệu quả kinh doanh được xem là “đại lượng được đo b ng thương số giữa phần tăng thêm của kết quả thu được với phần tăng thêm của chi phí. Theo quan điểm này, hiệu quả kinh doanh được xem xét thông qua các chi tiêu tương đối. Khắc phục được hạn chế của các quan điểm trước đó, quan điểm này đã phán ánh mối tương quan giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra, phản ánh sự vận động của kết quả kinh doanh và chi phí kinh doanh, đ c biệt phản ánh được sự tiến bộ của hoạt động kinh doanh trong kỳ thực hiện so với các kỳ trước đó. Tuy vậy, nhược điểm lớn nhất của định nghĩa này là doanh nghiệp không đánh giá được hiệu quả 9 kinh doanh trong kỳ thực hiện do không xét đến mức độ tuyệt đối của kết quả kinh doanh và chi phí kinh doanh.
Theo đó, phần tăng của doanh thu có thể lớn hơn rất nhiều so với phần tăng của chi phí nhưng chưa thể kết luận r ng doanh nghiệp thu được lợi nhuận. Để đo lường, các nghiên cứu sử dụng ch số tăng trưởng doanh thu trên tăng trưởng chi phí”. Cuối cùng, một hướng tiếp cận phổ biến là hiệu quả kinh doanh phải “phản ánh lợi nhuận thu được trên phần vốn bỏ ra. Ưu điểm của hướng tiếp cận này phản ảnh được mục đích cuối cùng của các doanh nghiệp là lợi nhuận.
Tuy nhiên nhược điểm là ch tính đến nguồn vốn đầu tư mà bỏ qua các nguồn lực khác đã sử dụng”. Các ch tiêu dùng để đo lường hiệu quả theo hướng tiếp cận này thường là các ch số lợi nhuận như: ROA, ROE… Ở một góc độ về hiệu quả hoạt động ngân hàng, hiệu quả nói chung là phép so sánh dùng để ch mối quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu hoạt động của chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để có kết quả đó. Do đó, trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng, hiệu quả hoạt động được định nghĩa theo nhiều quan điểm khác nhau. Theo Antonio và cộng sự (2006) thì hiệu quả là phép so sánh giữa đầu vào và đầu ra hay giữa lợi nhuận và chi phí.
Với cùng đầu vào cho trước, hoạt động nào tạo ra đầu ra lớn hơn sẽ là hoạt động hiệu quả hơn. Trong khi đó, theo Từ điển Toán kinh tế, Thống kê, kinh tế lượng Anh – Việt (Nguyễn Khắc Minh, 2004), hiệu quả là “mức độ thành công mà các doanh nghiệp ho c các ngân hàng đạt được trong việc phân bổ các đầu vào có thể sử dụng và các đầu ra mà họ sản xuất, đáp ứng mục tiêu đã định trước”. Như vậy, có thể hiểu hiệu quả hoạt động của NHTM có thể được hiểu và tiếp cận theo ba hướng như sau: (1) ngân hàng tối thiểu hóa được các chi phí, tức là sử dụng ít các yếu tố đầu vào nhất như cơ sở vật chất, vốn, lao động…để tạo ra doanh thu và lợi nhuận, (2) ngân hàng giữ nguyên các yếu tố đầu vào nhưng tạo ra được lượng đầu ra nhiều hơn so với thông thường, (3) ngân hàng sử dụng nhiều yếu tố đầu vào hơn nhưng lượng đầu ra được tạo ra tăng nhanh hơn so với tốc độ tăng các yếu tố đầu vào. Một thực tế cho thấy, hệ thống NHTM ở thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, do đó hiệu quả hoạt động của các ngân hàng là một trong những vấn đề luôn được quan tâm bởi các nhà 10 nghiên cứu và các nhà quản lý nói chung.
Các ngân hàng phải thường xuyên đối m t với yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động nh m củng cố tiềm lực tài chính và an toàn hoạt động trong nền kinh tế mở hiện nay. Ngoài ra, trong hoạt động của ngân hàng thương mại (NHTM), theo lý thuyết hệ thống thì “hiệu quả có thể được hiểu ở hai khía cạnh như sau: (i) thứ nhất, khả năng biến đổi các đầu vào thành các đầu ra hay khả năng sinh lời ho c giảm thiếu chi phí để tăng khả năng cạnh tranh với các định chế tài chính khác. (ii) thứ hai là xác suất hoạt động an toàn của ngân hàng. Sự lành mạnh của hệ thống ngân hàng thương mại quan hệ ch t chẽ với sự ổn định và phát triển của nền kinh tế vì ngân hàng thương mại là tổ chức trung gian tài chính kết nối khu vực tiết kiệm với khu vực đầu tư của nền kinh tế.
Do đó sự biến động của nó sẽ ảnh hưởng rất mạnh đến các ngành kinh tế quốc dân khác”.Rose – một giáo sư kinh tế học và tài chính trường đại học Yale thì “về bản chất ngân hàng thương mại cũng có thể được coi như một tập đoàn kinh doanh và hoạt động với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận với mức độ rủi ro cho phép. Tuy nhiên, khả năng sinh lời là mục tiêu được các ngân hàng quan tâm hơn cả vì thu nhập cao sẽ giúp các ngân hàng có thể bảo toàn vốn, tăng khả năng mở rộng thị phần, thu hút vốn đầu tư”. Theo định nghĩa trong cuốn "Từ điển Toán kinh tế, Thống kê, kinh tế lượng Anh- Việt" của Nguyễn Khắc Minh thì "hiệu quả - efficiency" trong kinh tế được định nghĩa là "mối tương quan giữa đầu vào các yếu tố khan hiếm với đầu ra hàng hóa và dịch vụ" và "khái niệm hiệu quả được dùng để xem xét các tài nguyên được các thị trường phân phối tốt như thế nào." Như vậy, ta có thể hiểu r ng hiệu quả của ngân hàng là mức độ thành công mà các ngân hàng thương mại đạt được trong việc phân bổ các yếu tố đầu vào có thể sử dụng và các yếu tố đầu ra mà họ sản xuất, nh m đáp ứng một mục tiêu nào đó của các ngân hàng thương mại. Mục tiêu của các nhà sản xuất có thể đơn giản là cố gắng tránh lãng phí, b ng cách đạt được đầu ra cực đại từ các đầu vào giới hạn ho c b ng việc cực tiểu hoá sử dụng đầu vào trong sản xuất các đầu ra đã cho.
Trong trường hợp này khái niệm hiệu quả của ngân hàng tương ứng với cái mà ta gọi là hiệu quả kỹ thuật (khả năng cực tiểu hoá sử dụng đầu vào để sản xuất một véc tơ đầu ra cho trước, ho c khả năng thu được đầu ra cực đại từ một véc tơ đầu vào cho trước), và mục tiêu tránh lãng phí của các 11 nhà sản xuất trở thành mục tiêu đạt được mức hiệu quả kỹ thuật cao. Ở mức cao hơn, mục tiêu của các nhà sản xuất nói chung có thể đòi hỏi sản xuất các đầu ra đã cho với chi phí đầu vào cực tiểu, ho c sử dụng các đầu vào đã cho sao cho cực đại hoá doanh thu, lợi nhuận, ho c phân bổ các đầu vào và đầu ra sao cho cực đại hoá lợi nhuận. Trong các trường hợp này hiệu quả tương ứng được gọi là hiệu quả kinh tế (khả năng cho biết kết hợp các đầu vào nhân tố cho phép tối thiểu hóa chi phí để sản xuất ra một mức sản lượng nhất định), và mục tiêu của các nhà sản xuất trở thành mục tiêu đạt mức hiệu quả kinh tế cao (tính theo các ch tiêu như chi phí, doanh thu ho c lợi nhuận). Như vậy, hiệu quả là “phạm trù phản ánh sự thay đổi công nghệ, sự kết hợp và phân bổ hợp lý các nguồn lực, trình độ lành nghề của lao động, trình độ quản lý.nó phản ánh quan hệ so sánh được giữa kết quả kinh tế và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó”.
Theo các nghiên cứu về hiệu quả hoạt ngân hàng, việc đánh giá và đo lường hiệu quả hoạt động có thể được chia làm hai nhóm đó là hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối: - Các ch tiêu phản ánh hiệu quả tuyệt đối (hiệu quả hoạt động = kết quả hoạt động - chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó), “ch tiêu này cho phép đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại theo cả chiều sâu và chiều rộng. Tuy nhiên loại ch tiêu này trong một số trường hợp lại khó có thể thực hiện so sánh được”. Ví dụ, những ngân hàng có nguồn lực lớn thì tạo ra lợi nhuận lớn hơn những ngân hàng có nguồn lực nhỏ, nhưng không có nghĩa là các ngân hàng quy mô lớn lại có hiệu quả lớn hơn các ngân hàng có quy mô nhỏ hơn.