chương 1, tác giả đã tiến hành giới thiệu nêu tính cấp thiết của đề tài; đặt ra mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu và xác định phương pháp nghiên cứu; đồng thời xác định được ý nghĩa của đề tài mình thực hiện. Đồng thời tác giả đã đưa ra được bố cục dự kiến của luận văn của mình để tạo cơ sở trình bày cho những chương tiếp theo 7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THANH KHOẢN – RỦI RO THANH KHOẢN 2.1 KHÁI NIỆM THANH KHOẢN – CUNG, CẦU THANH KHOẢN VÀ TRẠNG THÁI THANH KHOẢN CỦA NHTM 2.1 Khái niệm thanh khoản Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng cho rằng: “Thanh khoản là một thuật ngữ chuyên ngành nói về khả năng đáp ứng các nhu cầu về sử dụng vốn khả dụng phục vụ cho hoạt động kinh doanh tại mọi thời điểm như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán, giao dịch vốn.” Theo Rose (2001) định nghĩa “Thanh khoản ngân hàng là việc ngân hàng có thể có được những khoản vốn khả dụng với chi phí thấp đúng tại thời điểm ngân hàng có nhu cầu”. Điều này gợi ý rằng, ngân hàng có thanh khoản tốt khi ngân hàng có trong tay một lượng vốn khả dụng với quy mô hợp lý hoặc ngân hàng có thể nhanh chóng huy động vốn thông qua con đường vay nợ hay bán tài sản. Theo đó, thanh khoản ngân hàng thường mang ý nghĩa thời điểm rất lớn.
Đa số các yêu cầu thanh khoản của ngân hàng mang tính tức thời hoặc gần như vậy. Hầu hết các vấn đề về thanh khoản đều xuất hiện từ ngoài ngân hàng do những hoạt động tài chính của khách hàng. Trên thực tế, các vấn đề về thanh khoản của khách hàng thường chuyển về phía ngân hàng. Nếu khách hàng thiếu hụt vốn trong thanh khoản, họ có thể thực hiện vay vốn ngân hàng hoặc rút tiền khỏi tài khoản tiền gửi.
Trong cả hai điều này ngân hàng đều bắt buộc phải đáp ứng nhu cầu vốn bổ sung.Theo Duttweiler (2009), thanh khoản là sự chuyển đổi một cách dễ dàng một tài sản cụ thể thành tiền mặt và khi ngân hàng muốn chuyển tài sản đó thành tiền mặt thì thị trường vẫn còn khả năng chấp nhận các giao dịch. Theo giáo trình Quản trị ngân hàng thương mại (2010), Trương Quang Thông cho rằng: “Thanh khoản là khả năng biến đổi một tài sản nào đó ra tiền mặt một cách nhanh chóng, với một chi phí thấp nhất có thể. Một cách đầy đủ hơn, dựa vào cả hai tiếp cận từ tài sản và nguồn vốn, thanh khoản là khả năng tiếp cận các tài sản và nguồn vốn với một chi phí hợp lý để phục vụ các nhu cầu hoạt động khác nhau của ngân hàng” 8 2.2 Cung và cầu thanh khoản Cung thanh khoản: Cung thanh khoản là những nguồn của ngân hàng để đáp ứng cầu thanh khoản gồm: - Tiền mặt và các khoản tương đương tiền: Đây được xem là nguồn tài trợ quan trọng cho các nhu cầu thanh khoản tức thời của ngân hàng. - Các khoản tín dụng đến hạn hoàn trả: hoạt động tín dụng mang lại nguồn thu lớn cho nhưng cũng chứa đựng rủi ro như mất vốn, ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của ngân hàng.
- Chứng khoán do chính phủ phát hành: các loại chứng khoán chính phủ như tín phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu kho bạc. - Các tài sản có tính thanh khoản khác : ví dụ như các khoản tiền mà ngân hàng đem cho vay trên thị trường tiền tệ - Tiền gửi mới của khách hàng - Vay trên thị trường liên ngân hàng: đáp ứng nhu cầu thanh khoản lớn và tức thời. - Đi vay NHTW: NHTM cũng có thể đi vay ngắn hạn NHTW với mức lãi suất chiết khấu do NHTW quy định Cầu thanh khoản: Cầu thanh khoản là nhu cầu thanh toán cho các nghĩa vụ tài chính đã cam kết của ngân hàng, cầu thanh khoản được tạo thành bởi các nhân tố chính sau: - Nhu cầu rút tiền của người gửi: đây là nhu cầu thanh khoản chính, có tính thường xuyên, tức thời và vô điều kiện; bao gồm tất cả các loại thuộc tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi phát hành séc, tiền gửi có kỳ hạn có thể rút trước hạn, tiền gửi có kỳ hạn thanh toán khi đến hạn, thanh toán kỳ phiếu, trái phiếu khi đến hạn … - Nhu cầu tín dụng hợp pháp của khách hàng để thanh toán hàng hóa và dịch vụ mà ngân hàng cam kết cho vay. Đây là các quan hệ tín dụng mà ngân hàng muốn duy trì và đáp ứng, bao gồm nhu cầu cấp tín dụng mới, gia hạn khi khoản vay đến hạn, sử dụng hạn mức tín dụng hay thực hiện cam kết tín dụng.
9 - Các khoản tiền vay đến hạn phải trả: đây là quan hệ tín dụng trên thị trường tiền tệ bao gồm hoàn trả tiền vay từ các ngân hàng khác, từ ngân hàng trung ương và các thỏa thuận mua lại. - Chi phí hoạt động và trả thuế: bao gồm các chi phí liên quan đến chi phí hoạt động, như chi tiền lương, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, công tác phí, mua sắm tài sản, chi sử dụng dịch vụ của các đơn vị khác, chi trả thuế các loại. - Thanh toán cổ tức cho cổ đông: bao gồm chi trả cổ tức cho tất cả các loại cổ phiếu do ngân hàng phát hành. - Trong cầu thanh khoản, có hai bộ phận quan trọng đối với ngân hàng.
Đó là nhu cầu rút tiền và nhu cầu vay tiền của khách hàng. Loại thứ nhất gắn liền với tiền ngân hàng huy động được, loại thứ hai gắn liền với việc tạo nên tài sản mới. Các khoản tiền khi huy động được, ngay lập tức gia tăng ngân quỹ cho ngân hàng (tức là tăng cung thanh khoản), đồng thời cũng tạo nên nhu cầu về thanh khoản. Sự khác biệt về kỳ hạn của các dòng tiền vào (cung thanh khoản) và dòng tiền ra (cầu thanh khoản) tạo nên sự khác biệt về cung cầu thanh khoản.
- Cách thức mà ngân hàng áp dụng để quản lý cầu thanh khoản có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự an toàn của hệ thống. Sau đây là một số nội dung chính: - Phân tích nhu cầu thanh khoản trong quá khứ để thấy những biến động về những nhu cầu này và các nhân tố ảnh hưởng. - Đo lường mối liên hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng và nhu cầu thanh khoản để xác định tần suất và độ lớn trong thay đổi nhu cầu thanh khoản. - Phân tích và định lượng nhu cầu thanh khoản đối với từng loại tiền gửi, từng nhóm khách hàng và từng thời kỳ trong năm.
Các ngân hàng thương mại dự đoán nhu cầu thanh khoản dựa trên phân tích các dòng tiền rút ra kỳ trước và có tính đến những thay đổi có thể xảy ra kỳ này. Kỳ tính có thể là hàng ngày, tuần, tháng, năm hoặc nhiều năm … 2.3 Trạng thái thanh khoản ngân hàng Trạng thái thanh khoản = Cung thanh khoản – Cầu thanh khoản Trạng thái thanh khoản xảy ra 1 trong 3 trường hợp sau: 10 Thặng dư thanh khoản: Khi cung thanh khoản vượt quá cầu thanh khoản, ngân hàng đang ở trạng thái thặng dư thanh khoản. Nhà quản trị ngân hàng phải cân nhắc đầu tư số vốn thặng dư này vào đâu để mang lại hiệu quả. Thâm hụt thanh khoản: Khi cầu thanh khoản lớn hơn cung thanh khoản, ngân hàng phải đối mặt với tình trạng thâm hụt thanh khoản.
Nhà quản trị phải xem xét, quyết định nguồn tài trợ thanh khoản lấy từ đâu, bao giờ thì có và chi phí bao nhiêu. Cân bằng thanh khoản: Khi cung thanh khoản cân bằng với cầu thanh khoản, tình trạng này được gọi là cân bằng thanh khoản. Tuy nhiên, đây là tình trạng rất khó xảy ra trên thực tế. Tóm lại, bản chất của thanh khoản trong ngân hàng như sau: Rất hiếm khi tại một thời điểm tổng cầu thanh khoản bằng tổng cung thanh khoản.
Vì vậy, ngân hàng phải thường xuyên đối phó với thặng dư thanh khoản hoặc thâm hụt thanh khoản. Giữa thanh khoản và khả năng sinh lời có sự đánh đổi vì nếu thặng dư thanh khoản thì khả năng sinh lời lại thấp tuy nhiên thâm hụt thanh khoản lại có thể xảy ra những rủi ro không lường trước được cho ngân hàng và có thể ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng. Một ngân hàng được xem có tình trạng thanh khoản tốt nếu có khả năng tiếp cận các nguồn thanh khoản đầy đủ, tức thời, mức chi phí hợp lý tại thời điểm có nhu cầu.2 RỦI RO THANH KHOẢN – NGUYÊN NHÂN GÂY RA RỦI RO THANH KHOẢN – TÁC ĐỘNG CỦA RỦI RO THANH KHOẢN ĐẾN HOẠT ĐỘNG KI NH TẾ, XÃ HỘI VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM 2.1 Rủi ro thanh khoản: Rủi ro thanh khoản (Liquidity Risk) là rủi ro khi ngân hàng không có khả năng cung ứng đầy đủ lượng tiền mặt cho nhu cầu thanh khoản tức thời; hoặc cung ứng đủ thanh khoản nhưng với chi phí cao hoặc quá cao. Nói cách khác, đây là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàng thiếu khả năng chi trả, do không chuyển đổi kịp thời các loại tài sản ra tiền mặt, hoặc không thể vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán.
Cụ thể hơn, thì rủi ro thanh khoản là trạng thái thiếu hụt thanh khoản khá trầm trọng dẫn đến ngân hàng mất khả năng chi trả các khoản nợ đến hạn.2 Nguyên nhân gây rủi ro thanh khoản Nhiều nghiên cứu đã tương đối thống nhất khi chỉ ra rằng rủi ro thanh khoản có thể đến từ bên tài sản nợ hoặc tài sản có, hoặc từ hoạt động ngoại bảng của bảng cân đối tài sản của NHTM (Valla và Escorbiac, 2006). Bên cạnh đó, theo Nguyễn Văn Tiến (2010), có ba nguyên nhân tiền đề khiến cho ngân hàng phải đối mặt với rủi ro thanh khoản thường xuyên là: - Nguyên nhân thứ nhất: Ngân hàng huy động và vay vốn với thời hạn ngắn và cứ tuần hoàn chúng để sử dụng cho vay với thời hạn dài hơn. Do đó, nhiều ngân hàng phải đối mặt với rủi ro không trùng khớp về mặt thời hạn đến hạn giữa tài sản có và tài sản nợ. Thực tế là ngân hàng thường có một tỷ lệ đáng kể tài sản nợ, có đặc điểm là phải được hoàn trả tức thời nếu người gửi có nhu cầu, như tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn có thể rút trước hạn … Vì vậy, ngân hàng luôn phải sẵn sàng thanh khoản.
- Nguyên nhân thứ hai: Sự nhạy cảm của tài sản tài chính trước những thay đổi về lãi suất.