Chương 1, Điều 2 Thông tư 11/2021/TT-NHNN ngày 30/7/2021 của NHNN thì đối tượng phải phân loại nợ và trích lập dự phòng bao gồm các tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam trừ NHCSXH. Theo đó rủi ro trong hoạt động tín dụng của NHCSXH được đảm bảo bởi NHNN vì thế NHCSXH không phải trích lập dự phòng. 8 Trường hợp ngân hàng nước ngoài có chi nhánh hoạt động tại Việt Nam muốn phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để phòng ngừa RRTD theo quy định của ngân hàng nước ngoài cần có văn bản trình NHNN về chính sách trích lập dự phòng để NHNN xem xét và quyết định. Các chi nhánh của ngân hàng nước ngoài được phép phân loại nợ, trích lập dự phòng để xử lý RRTD theo quy định của ngân hàng nước ngoài khi đã được NHNN chấp thuận bằng văn bản pháp luật.
Phương pháp trích lập dự phòng Cơ sở trích lập dự phòng RRTD được các NHTM tại Việt Nam dựa trên quy định của văn bản pháp luật được ban hành bởi NHNN. Cụ thể các NHTM sẽ dựa trên thông tư 11/2021/TT-NHNN ngày 30/7/2021 được ban hành bởi Thống đốc NHNN Việt Nam, quy định về phân loại tài sản, mức trích và phương pháp trích lập dự phòng và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của các TCTD. Trong thông tư 11/2021/TT-NHNN ngày 30/7/2021 được ban hành bởi Thống đốc NHNN Việt Nam, dự phòng RTTD được tính dựa trên tỷ lệ phần trăm của các nhóm nợ sau khi đã phân loại. Mức trích lập dự phòng dựa trên từng nhóm nợ cụ thể được trình bày ở”bảng sau: Bảng 2.
Phân loại nợ và trích lập dự phòng theo thông tư 11/2021/TT-NHNN ngày 30/7/2021 Nhóm Dự phòng Dự phòng Nội dung nợ cụ thể chung Nhóm 1: – Các khoản nợ trong hạn và tổ chức tín dụng 0% 0,75% Nợ đủ đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn. tiêu chuẩn – Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại. 9 Nhóm Dự phòng Dự phòng Nội dung nợ cụ thể chung Nhóm 2: – Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày 5% 0.75% Nợ cần – Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần chú ý đầu (đối với khách hàng là ngân hàng, tổ chức thì tổ chức tín dụng phải có hồ sơ đánh giá khách hàng về khả năng trả nợ đầy đủ nợ gốc và lãi đúng kỳ hạn được điều chỉnh lần đầu) Nhóm 3: – Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 20% 0.75% Nợ dưới ngày tiêu – Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần chuẩn đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại Điểm b khoản này – Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng Nhóm 4: – Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 50% 0.75% Nợ ngày Nghi ngờ – Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu – Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai Nhóm 5: – Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày 100% 0% 10 Nhóm Dự phòng Dự phòng Nội dung nợ cụ thể chung Nợ có – Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần khả năng đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu mất vốn – Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai – Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn – Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý; Nguồn: Tổng hợp từ thông tư 11/2021/TT-NHNN Trong“đó nợ nhóm 3 nhóm 4 và nhóm 5 được xem là nợ khó đòi, thường được gọi là nợ xấu. Đặc biệt đối với các khoản nợ khoanh chờ chính phủ xử lý thì trích lập dự phòng cụ thể dựa trên khả năng tài chính của tổ chức tín dụng.
Dự phòng cụ thể trong trường hợp này được tính theo công thức sau: R = max {0, (A – C)} x r Trong đó: R là số tiền dự phòng trích lập; A: Dư nợ gốc của khoản nợ; C: giá trị khấu trừ của tài sản bảo đảm; r: tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể. Như vậy, trong trường hợp đối với các khoản nợ khoanh chờ chính phủ xử lý thì mức trích lập dự phòng không chỉ phụ thuộc vào giá trị khoản nợ và tỷ lệ trích lập dự phòng mà còn phụ thuộc vào giá trị tài sản đảm bảo. Nếu giá trị tài sản đảm bảo lớn hơn giá trị khoản nợ thì mức mức trích lập bằng 0, điều này đồng nghĩa ngân hàng không phải trích lập đối với khoản vay đó. Tổng quan các nghiên cứu dự phòng rủi ro cho vay 2.
Nghiên cứu nước ngoài Nghiên cứu của Hasan và“Wall (2003) về các nhân tố tác động đến dự phòng RRTD đã tìm thấy tác động cũng chiều của nợ xấu đến trích lập dự phòng nợ xấu. Ngoài ra, nghiên cứu còn cho thấy tỷ lệ nợ không thu hồi được và tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản đồng biến với biến trích lập dự phòng rủi ro tín dụng. Dựa vào tính toán dự phòng RRTD đã giúp các nhà quản trị ngân hàng giảm sự biến động của lợi nhuận qua đó duy trì khả năng sinh lợi ổn định theo nghiên cứu của Kim và Santomero (1993). Hasan và Wall (2004)“sử dụng mô hình ảnh hưởng cố định để xem xét tác động của nợ xấu, vốn chủ sở hữu, lợi nhuận trước thuế và dự phòng ảnh hưởng đến dự phòng RRTD.
Kết quả cho thấy các nhân tố này đều có tác động đến dự phòng RRTD nhưng ý nghĩa thống kê giữa các nhóm ngân hàng là khác nhau. Bằng phân tích hồi quy, Chen & cộng sự (2005) cho rằng ngoài nhân tố quy mô thì các nhân tố về dấu hiệu và đo lường tổn thất đều có ảnh hưởng đến dự phòng RRTD. Ashour (2011) xem xét ảnh hưởng của lợi nhuận trước thuế và dự phòng, quỹ dự trữ, cơ cấu nợ phải trả, tỉ lệ an toàn vốn, tỉ lệ cho vay trên tiền gửi khách hàng và tổng tài sản đến dự phòng RRTD. Nghiên cứu phát hiện bằng chứng về các ngân hàng giảm dự phòng RRTD khi thiếu hụt quỹ dự trữ bắt buộc và khi tỉ lệ cho vay trên tiền gửi”cao.
Nghiên“cứu mối liên hệ của tăng trưởng tín dụng và RRTD ngân hàng cho thấy tăng trưởng dư nợ vay vượt trên mức trung bình của các ngân hàng OECD đồng biến với logarit của tỷ lệ dự phòng RRTD trên tổng dư nợ cho vay năm trước theo Foos và các cộng sự (2010). Ngoài ra nghiên cứu không tìm thấy mối quan hệ giữa biến RRTD với biến quy mô và biến tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản. Một nghiên cứu khác của Suluck và Supat (2012) trên dữ liệu gồm các ngân hàng và tổ chức tài chính trong mười lăm quốc gia ở Đông Á, Nam Á và khu vực Đông Nam Á trong thời gian 1997 – 2009, cho thấy khi tăng trưởng tín dụng cao sẽ dẫn đến giảm RRTD trong một năm đến ba năm”tiếp theo. 12 Sử dụng“mô hình nhân tố tác động cố định để tìm hiểu các nhân tố tác động đến dự phòng RRTD của các ngân hàng Malaysia trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế.
Kết quả là không đủ bằng chứng để kết luận các nhân tố ước tính thu hồi nợ xấu và nợ xấu ảnh hưởng đến dự phòng RRTD, nhưng thu nhập lãi và dư nợ có mối tương quan thuận, còn lợi nhuận lại có tương quan”nghịch theo nghiên cứu của Isa và cộng sự (2014) Berger và“cộng sự (2013) nghiên cứu thực nghiệm trên 42 ngân hàng tại châu Á cho kết quả, vốn chủ sở hữu tác động ngược chiều đến RRTD thông qua biến tỷ lệ dự phòng RRTD. Adiz và cộng sự (2015) cũng nghiên cứu về hành vi trích lập dự phòng RRTD cùng với phương pháp GMM, nghiên cứu cho thấy dự phòng RRTD năm trước, thu nhập thuế và dự phòng EBTP, tỷ lệ vốn CAP, tăng trưởng GDP, nợ xấu, quy mô ngân hàng có ảnh hưởng đến RRTD tại các NHTM Malaysia giai đoạn 2004-2012. Nhóm cũng nghiên cứu về hành vi trích lập dự phòng tai quốc gia này giai đoạn 2002-2012 để đánh giá việc quản lý thu nhập bằng dự phòng RRTD và ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính 2007-2009 đến mức trích lập dự phòng tại 15 ngân hàng của Malaysia. Với phương pháp kiểm định tác động cố định, kết quả cho thấy rằng thu nhập trước thuế và dự phòng, tỷ lệ nợ xấu tác động đến dự phòng RRTD, còn yếu tố thay đổi dư nợ cho vay và tỷ lệ vốn trên tài sản cũng như GDP thì không.
Nghiên cứu còn cho thấy rằng các nhà quản lý ngân hàng buộc phải tăng mức dự phòng rủi ro để bù đắp thiệt hại dự kiến trong giai đoạn khủng hoàng tài chính”2007- 2009. Peterson K Ozili (2015) nghiên cứu thực nghiêm các ngân hàng tại Nigeria giai đoạn 2002-2013 cho thấy tác động cùng chiều của thu nhập trước thuế và dự phòng lên Tỷ lệ dự phòng RRTD do các nhà lãnh đạo có xu hướng giảm tỷ lệ dự phòng RRTD khi thu nhập trước thuế và dự phòng giảm với mục đích làm đẹp báo cáo tài chính của ngân hàng. Đến năm 2017, Ozili tiếp tục nghiên cứu trên các ngân hàng châu Phi về ảnh hưởng của kiểm toán Big 4 lên Tỷ lệ dự phòng tủi ro tín dụng và khi thu nhập trước thuế và dự phòng. Nghiên cứu của Andries và cộng sự (2017) cũng có kết quả tương tự.
13 Nghiên cứu của Wu et al. (2015) trên 102 ngân hàng tại Trung Quốc giai đoạn 2006-2011 về tác động của tỷ lệ sở hữu nhà đầu tư nước ngoài lên tỷ lệ dự phòng RRTD để làm đẹp báo cáo tài chính. Kết quả cho thấy rằng các ngân hàng có nhiều nhà đầu tư chiến lược nước ngoài có xu hướng tăng tỷ lệ dự phòng tủi ro tín dụng để làm giảm thu nhập trong báo cáo tài chính. Soedarmono, Pramono, and Tarazi (2017) đã nghiên cứu trên mẫu các NHTM Hồi giáo giai đoạn 1997-2012 về việc liệu trích lập dự phòng RRTD trong các ngân hàng Hồi giáo có mang tính chu kỳ hay không.