chương I giới thiệu đề tài nghiên cứu, nội dung luận văn được cấu trúc như sau: Chương II: Tổng quan đề tài nghiên cứu. Chương III: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu Chương IV: Kết quả nghiên cứu Chương V: Kết luận và hàm ý chính sách 6 7. Đóng góp của luận văn Luận văn nghiên cứu tác động của chính sách tiền tệ Mỹ đến tăng trưởng kinh tế của các nước mới nổi ở Châu Á. Hầu hết các bài nghiên cứu trước chủ yếu tập trung phân tích tác động của chính sách tiền tệ của Mỹ.
Tuy nhiên, tác động của chính sách tiền tệ Mỹ đến các nền kinh tế khác sẽ tiêu cực hoặc tích cực không chỉ tùy thuộc vào sức mạnh của tác động dịch chuyển chi tiêu và tác động kích thích chi tiêu mà còn tùy thuộc vào đặc trưng của các quốc gia chịu tác động. Trong xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu, tác động lan tỏa từ chính sách tiền tệ của một nước lên các quốc gia khác là điều không thể tránh khỏi và mỗi quốc gia đều có những mục tiêu và điều kiện kinh tế riêng. Việc phân tích phản ứng của các quốc gia dựa trên đặc trưng của mỗi nước, giúp các quốc gia có những điều chỉnh phù hợp nhằm hạn chế các tác động từ bên ngoài nói chung và tác động từ chính sách tiền tệ Mỹ nói riêng. Do vậy, không chỉ những nghiên cứu về tác động lan tỏa của chính sách tiền tệ của Mỹ mà những nghiên cứu về phản ứng của các quốc trước tác động của chính sách tiền tệ bên ngoài cũng rất cần thiết.
7 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ TÁC ĐỘNG CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 2. Cơ sở lý thuyết về chính sách tiền tệ và tăng trưởng kinh tế 2. Tổng quan về chính sách tiền tệ và tăng trưởng kinh tế 2. Chính sách tiền tệ Trong đời sống kinh tế xã hội của mọi quốc gia, lĩnh vực tài chính, tiền tệ ngày càng chiếm vị trí quan trọng và quyết định.
Việc xây dựng nền tài chính độc lập, vững mạnh vừa tạo động lực thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển, vừa tạo khả năng chống đỡ trước những ảnh hưởng tiêu cực do biến động bất lợi trong đời sống kinh tế thế giới. Chính sách tiền tệ là công cụ quản lý kinh tế vĩ mô do ngân hàng trung ương thực hiện, thông qua việc chi phối, điều tiết quá trình cung ứng tiền và tín dụng góp phần đạt được các mục tiêu của chính sách kinh tế vĩ mô như ổn định tiền tệ, tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm,… Để thực hiện chính sách tiền tệ, ngân hàng trung ương chủ yếu sử dụng các công cụ như tỷ lệ dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở và lãi suất cho vay tái chiết khấu. Tùy vào đặc điểm kinh tế hay thời điểm cụ thể tại mỗi quốc gia mà chính sách tiền tệ có thể xác định theo hai hướng: Chính sách tiền tệ mở rộng (tăng cung tiền, giảm lãi suất để thúc đẩy sản xuất kinh doanh, giảm tỷ lệ thất nghiệp nhưng lạm phát có thể tăng cao) hay chính sách tiền tệ thắt chặt giúp ổn định đồng tiền (giảm cung tiền, tăng lãi suất làm giảm đầu tư vào sản xuất kinh doanh từ đó giảm lạm phát nhưng thất nghiệp tăng). Ngoài ra, trong trường hợp kinh tế suy thoái và các công cụ truyền thống trở nên vô hiệu, ngân hàng trung ương có thể sử dụng các công cụ thuộc nhóm chính sách tiền tệ phi truyền thống như nới lỏng định lượng, chính sách lãi suất âm, định hướng mục tiêu.
8 Mức độ hiệu quả của chính sách tiền tệ phụ thuộc vào khả năng của nhà hoạch định chính sách trong việc đánh giá chính xác thời điểm, mức độ ảnh hưởng của chính sách lên các hoạt động kinh tế và giá cả hàng hóa. Vì vậy nhu cầu đánh giá chính xác mức độ ảnh hưởng của các cú sốc kinh tế trong và ngoài nước hay mức độ ảnh hưởng của các chính sách tiền tệ lên nền kinh tế trong nước là một nhu cầu thiết yếu, giúp các nhà tạo lập chính sách đưa ra các quyết định đúng về chính sách tiền tệ nhằm đạt được mục đích phát triển ổn định nền kinh tế. Tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng giá trị hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra trên mỗi đầu người trong một nền kinh tế sau khi đã được điều chỉnh lạm phát. Để tính toán tăng trưởng kinh tế các nhà kinh tế sử dụng số liệu về tổng sản phẩm trong nước.
Trong các nghiên cứu thực nghiệm, tăng trưởng kinh tế thường được đo lường bằng sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản lượng quốc gia (GNI) hay sản lượng quốc nội tính bình quân trên đầu người trong một khoảng thời gian nhất định (Barro & Sala-i-Martin, 2004; Duvendack & Palmer, 2012). Có ba phương pháp để tính GDP: (i) Phương pháp giá trị gia tăng hay phương pháp sản xuất, được tính tổng giá trị sản lượng kinh tế và khấu trừ chi phí của hàng hóa trung gian được tiêu thụ trong quá trình, như các vật liệu và dịch vụ, (ii) Phương pháp chi tiêu, được tính bằng cách tổng tất cả các chi tiêu cho hàng hóa và dịch vụ cuối cùng, (iii) Phương pháp thu nhập, được tính bằng cách tổng tất cả các thu nhập mà khu vực xí nghiệp phân phối cho các hộ gia đình dưới hình thức tiền lương, tiền lãi, tiền thuê và lợi nhuận. Trong đó, phương pháp chi tiêu là phương pháp phổ biến được sử dụng để tính GDP. Các yếu tố chi tiêu chính bao gồm: tiêu dùng của hộ gia đình, đầu tư của doanh nghiệp, chi tiêu của chính phủ cho hàng hóa và dịch vụ và xuất khẩu ròng.
Công thức tính GDP theo phương pháp chi tiêu được thể hiện như sau: GDP = C + I + G + ( X – M ) Trong đó: 9 C là tiêu dùng của hộ gia đình I là đầu tư của doanh nghiệp G là chi tiêu của chính phủ X là tổng giá trị xuất khẩu M là tổng giá trị nhập khẩu 2. Quốc gia mới nổi Kvint (2009) đã đưa ra định nghĩa về quốc gia mới nổi: “Một quốc gia có thị trường mới nổi là một thị trường chuyển đổi từ chế độ độc tài sang nền kinh tế định hướng thị trường tự do, với sự tự do kinh tế ngày càng tăng, hội nhập dần dần với thị trường toàn cầu và với các thành viên khác của GEM (thị trường mới nổi toàn cầu), một tầng lớp trung lưu đang mở rộng, cải thiện mức sống, ổn định xã hội và sức chịu đựng, cũng như tăng cường hợp tác với các thể chế đa phương”. Nền kinh tế mới nổi là nền kinh tế của một quốc gia đang phát triển đang ngày càng hội nhập với các thị trường toàn cầu. Các quốc gia được xếp hạng là nền kinh tế mới nổi là những nước có một số đặc điểm của một thị trường phát triển.
Khi nền kinh tế thị trường mới nổi phát triển thường trở nên hòa nhập hơn với nền kinh tế toàn cầu, thể hiện qua việc tăng tính thanh khoản của thị trường vốn và thị trường nợ trong nước, tăng khối lượng thương mại và đầu tư trực tiếp nước ngoài, và sự phát triển của các tổ chức tài chính và pháp lý hiện đại trong nước. Một số nền kinh tế thị trường mới nổi đáng chú ý bao gồm Ấn Độ, Mexico, Nga, Trung Quốc. Điều quan trọng nhất một nền kinh tế thị trường mới nổi thường đang chuyển từ một nền kinh tế tiền công nghiệp, kém phát triển, thu nhập thấp sang một nền kinh tế công nghiệp hiện đại với mức sống cao hơn. Đặc điểm của các quốc gia có nền kinh tế mới nổi là thị trường thường không có những tổ chức điều tiết và quản lý thị trường đạt được mức độ phát triển giống như trong các nước phát triển.
Hiệu quả thị trường và các tiêu chuẩn nghiêm ngặt về kế toán và chứng khoán ở các thị trường mới nổi nói chung không bằng các nền 10 kinh tế tiên tiến (như Mỹ, Châu Âu và Nhật Bản). Các thị trường này vẫn có cơ sở hạ tầng tài chính bao gồm ngân hàng, sàn giao dịch chứng khoán và đồng tiền thống nhất trong nước. Ngoài ra, một khía cạnh quan trọng của các nền kinh tế thị trường mới nổi là những thị trường này dần áp dụng các cải cách và thể chế giống như các nước phát triển hiện đại, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Các nền kinh tế mới nổi có xu hướng giảm dần hoạt động khai thác tài nguyên và nông nghiệp, tập trung vào các hoạt động công nghiệp và sản xuất.
Các nền kinh tế mới nổi thường theo đuổi những chiến lược công nghiệp và thương mại có chủ đích để khuyến khích tăng trưởng kinh tế và công nghiệp hóa. Việc xếp loại các nền kinh tế mới nổi được thực hiện bởi nhiều tổ chức và dựa trên những tiêu chí khác nhau. Ví dụ, IMF xếp loại 23 quốc gia thuộc thị trường mới nổi, trong khi Morgan Stanley Capital International (MSCI) phân loại 24 quốc gia là thị trường mới nổi. Standard and Poor's và Russell, Dow Jones lần lượt phân loại thị trường mới nổi gồm 23, 19, 22 quốc gia.
Đối với cách phân loại các thị trường của MSCI, MSCI thực hiện phân loại thông qua những chỉ tiêu sau: sự phát triển nền kinh tế; độ lớn, tính thanh khoản; độ mở thị trường.1 cho thấy các quốc gia mới nổi theo phân loại của MSCI.1: Các quốc gia mới nổi trên thế giới theo xếp hạng của MSCI (Nguồn: Morgan Stanley Capital International 2018) 2. Các kênh tác động về tác động lan tỏa của chính sách tiền tệ Hội nhập kinh tế quốc tế, toàn cầu hóa là xu thế tất yếu của hầu hết các quốc gia để mở rộng thị trường, gia tăng năng lực cạnh tranh và phát triển. Bên cạnh những lợi ích mang lại cho kinh tế như sự tự do luân chuyển của hàng hóa, dịch vụ, nguồn vốn; hàng rào thuế quan dần được dỡ bỏ. thì liên kết quốc tế cũng làm gia tăng sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia và là kênh lan truyền hữu hiệu những cú sốc chính sách tiền tệ ra khắp toàn cầu.
Đối với những quốc gia lớn có vị thế quan trọng trong thương mại quốc tế, có nhiều hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài và thị trường tài chính phát triển như Mỹ, EU,… thì các chính sách tiền tệ được thực hiện bởi những quốc gia này cũng có tác động đáng kể đến các quốc gia khác trên 12 thế giới.