chương 1, đề tài trình bày chung về lý do chọn đề tài, mục tiêu của đề tài và câu hỏi nghiên cứu, tiếp đó là trình bày các đối tượng và phạm vi nghiên cứu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -5- của đề tài. Sau đó, tác giả đưa ra phương pháp nghiên cứu, bố cục cùng ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -6- CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CẤU TRÚC VỐN TÁC ĐỘNG TỚI LỢI NHUẬN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 2.1 Sơ lược về các Ngân hàng thương mại Việt Nam 2.1 Về tổng tài sản ❖ Phân tích về tổng tài sản Cũng như các doanh nghiệp khác, tài sản trong ngân hàng là nguồn lực do ngân hàng kiểm soát nhằm thu được lợi ích kinh tế trong tương lai. Lợi ích kinh tế trong tương lai mà tài sản mang lại là khả năng làm tăng nguồn tiền và các khoản tương đương tiền hoặc làm giảm bớt các khoản tiền mà ngân hàng chi ra.
Có thể nói quy mô và chất lượng của tài sản tạo nên sự phát triển bền vững cho một ngân hàng. Dưới đây là bảng số liệu và biểu đồ của quy mô tổng tài sản có của 24 NHTM tại Việt Nam từ 2008-2017.1 Tổng tài sản bình quân của 24 NHTM Việt Nam từ 2008-2017 (Đvt: triệu đồng) Năm Bình quân % Thay Cao nhất Tên Thấp nhất Tên Độ lệch đổi NH NH chuẩn 2008 53.943 Nguồn: Tác giả thống kê từ BCTC của 24 NHTM Việt Nam từ 2008-2017 Biểu đồ 2.1: Tổng tài sản bình quân của 24 NHTM Việt Nam từ 2008-2017 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -7- Nguồn: Tác giả thống kê từ BCTC của 24 NHTM Việt Nam từ 2008-2017 Từ năm 2008 đến năm 2017, tổng tài sản bình quân của các NHTM tại Việt Nam đã tăng vọt từ 50.920 triệu đồng (2008) lên 286.190 triệu đồng (2017) tăng gấp 5,4 lần nhưng đó là một sự tăng trưởng không đồng đều giữa các năm. Sau cuộc khủng hoảng tài chính 2008, tổng tài sản của các NHTM đã gia tăng trở lại, cụ thể là vào năm 2009 (tăng 32,15% so với năm 2008) và đỉnh điểm năm 2010 (tăng 43,66% so với năm 2009), nguyên nhân là do nền kinh tế và thị trường chứng khoán đã bắt đầu hồi phục, các NHTM đẩy mạnh gia tăng mạng lưới các chi nhánh và phòng giao dịch của mình nhằm tăng hiệu quả trong việc huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư, cụ thể là NHTMCP Á Châu với số lượng từ 2008 đến 2010 là 285, 236, 281 chi nhánh và phòng giao dịch, điều này cũng xảy ra tương tự với một số ngân hàng khác như: NHTMCP Kỹ Thương, NHTMCP Sài Gòn Thương Tín,… Tiếp theo đó là năm 2011 và 2012 mặc dù có tổng tài sản tăng nhưng tốc độ tăng trưởng lại giảm đi so với năm trước (còn tăng 21,82% so với năm 2010) và đỉnh điểm là năm 2012 (còn tăng 5,81% so với năm 2011). Nguyên nhân là do hậu quả của việc tăng trưởng tín dụng ồ ạt dẫn đến nợ xấu ngân hàng tăng cao, ngân hàng buộc phải trích lập dự phòng, điều này làm tổng tài sản của ngân hàng giảm xuống.
Ngoài ra, năm 2011, 2012 là hai năm mà nền kinh tế Việt Nam gặp nhiều khó khăn làm cho ngành ngân hàng ít nhiều cũng chịu ảnh hưởng. Từ năm 2013 trở về sau, tổng tài sản của các NHTM đã tăng đều trở lại do nền kinh tế Việt Nam LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -8- đang dần phục hồi, các ngân hàng đang dần ổn định, hoạt động có hiệu quả cộng với việc tái cơ cấu ngành ngân hàng trong đó có việc xử lý nợ xấu. Tác giả xin điểm qua tình hình cụ thể về tổng tài sản của các NHTM Việt Nam. Năm 2017, vị trí hàng đầu với khối tài sản lớn đó là các ngân hàng thuộc sở hữu của Nhà nước như là BIDV (1.843 triệu đồng), CTG (1.842 triệu đồng), VCB (1.283 triệu đồng) và thấp nhất là SGB (21.355 triệu đồng và kém hơn 56,4 lần của BIDV), một số ngân hàng cũng có khối tài sản thấp như: PGB (29.961 triệu đồng và kém hơn 41 lần của BIDV), KLB (37.805 triệu đồng và kém hơn 32,2 lần của BIDV), NAB (54.880 triệu đồng và kém hơn 22,1 lần của BIDV).
Từ những phân tích trên cùng vối số liệu về độ lệch chuẩn mà tác giả tính toán được, chúng ta có thể thấy rõ sự phân tán mạnh mẽ hay sự chênh lệch lớn về tổng tài sản giữa giữa nhóm những ngân hàng lớn với nhóm những ngân hàng nhỏ và đang có xu hướng tăng dần đều qua các năm. ❖ Phân tích về dư nợ cho vay Ngành ngân hàng ra đời và phát triển gắn liền với nền kinh tế hàng hóa, với tư cách là định chế tài chính trung gian thực hiện hoạt động huy động vốn và cho vay. Chính vì vậy, trong nghiệp vụ tín dụng nói chung thì hoạt động cho vay nói riêng vẫn là hoạt động cơ bản và truyền thống của các NHTM và đem lại nguồn lợi nhuận chủ yếu cho các ngân hàng. Và dưới đây là bảng số liệu và biểu đồ về dư nợ cho vay của 24 NHTM tại Việt Nam từ 2008-2017.2 Dư nợ cho vay của 24 NHTM Việt Nam từ 2008-2017 (Đvt: Triệu đồng) Năm Bình quân % Thay Cao nhất Tên Thấp nhất Tên Độ lệch đổi NH NH chuẩn 2008 27.603 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.575 Nguồn: Tác giả thống kê từ BCTC của 24 NHTM Việt Nam từ 2008-2017 Biểu đồ 2.2: Dư nợ cho vay của 24 NHTM Việt Nam từ 2008-2017 Nguồn: Tác giả thống kê từ BCTC của 24 NHTM Việt Nam từ 2008-2017 Từ các dữ liệu thu thập được, từ năm 2008 – 2017, dư nợ cho vay của các ngân hàng đã tăng trưởng đáng kể, đến hết năm 2017, mức dư nợ cho vay bình quân của các NHTM Việt Nam là 179.955 triệu đồng tăng gấp 6,5 lần so năm 2008 là 27.
Cũng giống như phần tổng tài sản mà tác giả đã phân tích ở trên, qua các năm dư nợ cho vay có gia tăng nhưng đó vẫn là một sự tăng trưởng không đồng đều qua các năm. Việc gia tăng mở rộng mạng lưới của các ngân hàng thu về một lượng lớn tiền nhàn rỗi nhờ huy động trong dân chúng cộng với sự hỗ trợ về lãi suất và chính sách kích cầu từ Chính phủ nhằm ngăn chặn suy thoái kinh tế dẫn tới việc tăng trưởng tín dụng một cách ồ ạt vào năm 2009 – 2010. Ước tính năm 2009, tốc độ tăng trưởng của dư nợ cho vay là 40.2% so với năm 2008 và năm 2010 gia tăng 35% so với năm 2009. Với những điều kiện thuận lợi trên làm bùng nổ các hoạt động cho vay đầu tư bất động sản, đầu tư chứng khoán, tiêu dùng,… điều này đã dẫn đến hệ lụy nợ xấu sau đó.
Trước tình hình đó, Chính phủ đã thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt bằng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -10- chỉ thị số 01/CT-NHNN ra đời ngày 01/03/2011 yêu cầu các NHTM xây dựng kế hoạch tăng trưởng tín dụng dưới 20% so với sư nợ cuối năm 2010 và phải được NHNN thông qua, điều này làm cho dư nợ cho vay có xu hướng tăng trưởng chậm lại vào các năm sau đó, đỉnh điểm là năm 2012, giảm còn 14,78%. Từ 2015 - 2016, tình hình dư nợ cho vay đã ổn định trở lại do các quy định từ thông tư 36/2014 có hiệu lực từ tháng 01/02/2015 đã tạo sự thuận lợi cho thị trường bất động sản phục hồi cụ thể là tỷ lệ cho vay trung và dài hạn tăng từ 30% lên 60%, giảm hệ số rủi ro cho vay bất động sản từ 250% xuống 150%, hạn chế dòng vốn tín dụng chảy vào thị trường chứng khoán, ngoài ra với sự xuất hiện của hai gói tín dụng: gói tín dụng trị giá 30.000 tỷ đồng nhằm giải quyết khó khăn về nhà ở và gói tín dụng trị giá 50.000 tỷ đồng dưới hình thức là một gói tín dụng thương mại thông thường và kết quả là mức tăng trưởng tín dụng vào năm 2015 là 22,78% so với 2014 và năm 2016 là 22,66% so với 2015. Sau đây, tác giả xin trình bày tình hình cho vay của các NTHM Việt Nam trong năm 2017. Đứng đầu về dư nợ cho vay đó là BIDV (855.525 triệu đồng), CTG (782.236 triệu đồng), VCB (535.404 triệu đồng) và thấp nhất là SGB (13.536 triệu đồng và kém hơn xấp xỉ 61,2 lần của BIDV), PGB (21.835 triệu đồng và kém hơn xấp xỉ 40,4 lần của BIDV), KLB (24.617 triệu đồng và kém hơn xấp xỉ 35 lần của BIDV).
Và cuối cùng, chúng ta có thể thấy rõ sự phân tán mạnh mẽ hay sự chênh lệch lớn về dư nợ cho vay giữa nhóm những ngân hàng lớn với nhóm những ngân hàng nhỏ và đang có xu hướng tăng dần đều qua các năm.2 Về nguồn vốn ❖ Phân tích về vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu của NHTM bao gồm các khoản vốn ngân hàng được cấp, hoặc được đóng góp bởi những người chủ ngân hàng khi mới thành lập, cộng với những khoản được trích lập, giữ lại từ lợi nhuận hoạt động. Vốn chủ sở hữu của NHTM chiếm một tỷ trọng nhỏ trong các khoản mục tạo nên nguồn vốn (thường chỉ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -11- chiếm 5% trong tổng nguồn vốn) nhưng có vai trò cực kỳ quan trọng đối với các ngân hàng. Do tính chất thường xuyên ổn định nên ngân hàng có thể sử dụng nó vào các mục đích khác nhau như trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, tạo tài sản cố định phục vụ cho bản thân ngân hàng, có thể sử dụng cho vay, đặc biệt là đầu tư góp vốn liên doanh. Mặt khác với chức năng bảo vệ, vốn thuộc sở hữu của ngân hàng được coi như là tài sản đảm bảo gây lòng tin với khách hàng, duy trì khả năng thanh toán cho khách hàng khi ngân hàng hoạt động thua lỗ.
Hơn nữa nó là một căn cứ quyết định đối với qui mô và khối lượng vốn huy động cũng như hoạt động cho vay và bảo lãnh của ngân hàng. Quy mô và sự tăng trưởng vốn thuộc sở hữu của ngân hàng sẽ quyết định năng lực phát triển của NHTM. Cũng giống như diễn biến của tổng tài sản có, vốn chủ sở hữu của các NHTM Việt Nam tăng liên tục trong giai đoạn 2008-2017 nhưng tốc độ tăng thì không đều, nói cách khác ngân hàng có tốc độ tăng trưởng vốn chủ sở hữu không ổn định. Dữ liệu đã được được thống kê ở bảng 1.7 và xu hướng đó được biểu diễn cụ thể hơn qua biểu đồ 1.