Chương 1: Tổng quan về cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động của các NHTMCP. Chương 2:Thực trạng về cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động của các NHTMCP Việt Nam. Chương 3: Giải pháp tối ưu hóa cấu trúc vốn của các NHTMCP Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CẤU TRÚC VỐN VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NHTMCP 1.1 Tổng quan về cấu trúc vốn 1.1 Khái niệm cấu trúc vốn Cấu trúc vốn: được định nghĩa là quan hệ tỷ lệ giữa các khoản nợ và vốn chủ của doanh nghiệp.
Khái niệm này được giới nghiên cứu tài chính quan tâm hơn 40 năm qua vì liên quan với một vấn đề: cấu trúc vốn có liên quan đến giá trị doanh nghiệp không? Trong thị trường hoàn hảo, cấu trúc vốn không liên quan đến giá trị doanh nghiệp. Tuy nhiên, thị trường hoàn hảo chỉ là một ý niệm rất lý tưởng nên nhiều nhà nghiên cứu đ đặt ra vấn đề có sự liên quan giữa cấu trúc vốn và giá trị doanh nghiệp. Chính vì mối liên quan này, thuật ngữ đòn bẩy nợ (hay đòn bẩy tài chính) cũng hàm ý cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Cấu trúc vốn là một khái niệm trừu tượng, nên khi nghiên cứu về lĩnh vực này, giới tài chính đ cụ thể hóa bằng nhiều cách đo khác trong các công trình của mình.
Đây là một vấn đề cần quan tâm vì mỗi cách đo lường khác nhau đều ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu, không giống như các định nghĩa phổ biến trong các giáo trình về quản trị tài chính. Rajan và Zingales (1995) cho rằng định nghĩa về cấu trúc vốn t y thuộc vào mục tiêu phân tích. Có hai vấn đề thường quan tâm khi đo lường cấu trúc vốn: Một là, giá trị thị trường hay giá trị sổ sách sẽ sử dụng để xác định gía trị của tài sản và các khoản nợ phải trả khi xem xét cấu trúc vốn? Có hai dòng tranh luận đối lập về vấn đề này. Theo trường phái sử dụng giá trị sổ sách (lấy sổ sách kế toán), chi phí cơ bản của các khoản vay là chi phí kỳ vọng của sự kiệt quệ về tài chính trong trường hợp phá sản.
Sự kiệt quệ tài chính ảnh hưởng đến chi phí vốn trung bình, tác động kéo theo đến một cấu trúc vốn tối ưu. Trong trường hợp đó, giá trị của một doanh nghiệp bị kiệt quệ sẽ gần với giá trị sổ sách. Nếu việc phá sản xảy ra, việc đo lường trách nhiệm đối với các chủ nợ theo giá trị sổ sách kế toán là chính xác nhất. Ngoài ra, giá trị sổ sách dễ tiếp cận hơn giá trị trường, ghi nhận chính xác hơn và không bị lệch so với sự thay đổi như TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 giá trị thị trường.
Giá trị sổ sách còn ph hợp khi xác định cấu trúc vốn đối với các công ty không yết giá hay các doanh nghiệp nh. Nếu sử dụng giá sổ sách, giá trị nợ và tài sản được sử dụng trên Bảng cân đối kế toán. Kiểu đo lường này được sử dụng trong nhiều nghiên cứu của Graham (2000), Hesmatti (2001), Michealas (1999), Mira (2001). Theo trường phái giá trị thị trường, người ta cho rằng giá trị thị trường xác định được giá trị thực của doanh nghiệp.
Một doanh nghiệp có giá trị vốn chủ sở hữu âm trên sổ kế toán nhưng lại có giá thị trường dương. Điều này có thể xảy ra nếu hoạt động kinh doanh trước đây thua lỗ làm vốn chủ có giá trị âm, nhưng giá thị trường dương phản ánh các dòng tiền kỳ vọng tương lai của doanh nghiệp đó. Vì lẽ đó, nhiều nghiên cứu sử dụng cả giá trị thị trường và giá trị sổ sách để đo lường cấu trúc vốn (Titman và Wessel, 1988; Pandey, 2001, Huang và Song, 2001…). Hai là, nợ phải trả để xác định cấu trúc vốn là loại nợ gì? Có cần thiết đo lường cấu trúc vốn theo từng loại nợ không? Nếu các dự đoán lý thuyết chủ yếu quan tâm ảnh hưởng của các nhân tố đối với cấu trúc vốn ở góc độ chung thì các nghiên cứu thực nghiệm thường đo lường cấu trúc vốn theo các khoản nợ vay ngắn hạn và dài hạn.
Bennette và Donnelly (1993) lập luận rằng nếu các doanh nghiệp có các chính sách tài trợ riêng biệt với các khoản nợ vay ngắn hạn thì ở các doanh nghiệp đó thực sự có sự tương tác giữa mức nợ vay ngắn hạn và dài hạn. Michaelas và cộng sự (1999) cho rằng nếu các nhân tố ảnh hưởng đến nợ ngắn hạn khác với các nhân tố ảnh hưởng đến nợ dài hạn thì cần thiết sử dụng cả nợ vay ngắn và nợ dài để đo lường cấu trúc vốn. Đây là hướng tiếp cận đ được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm như Titman và Wessels (1988), Pandey (2001), Huang và Song (2001). Nợ vay hay toàn bộ nợ phải trả cũng là vấn đề quan tâm khi đo lường cấu trúc vốn.
Lý do là trong nợ phải trả còn có các khoản tín dụng thương mại và các nguồn vốn tạm thời khác mà những nguồn vốn này cũng góp phần không nh trong các khoản tài trợ ở doanh nghiệp. Điều này càng thích hợp với các doanh nghiệp nh. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Tóm lại, chúng ta có thể đưa ra các chỉ tiêu phản ánh cấu trúc vốn của doanh nghiệp, chúng rất đa dạng. Bảng dưới đây tổng hợp các cách đo lường cấu trúc vốn: Bảng 1.1: Các cách đo lƣờng cấu trúc vốn Cấu trúc vốn Cách thức đo lƣờng Tỷ lệ nợ phải trả (NPT) và tổng tài sản (TTS) NPT/TTS Tỷ lệ nợ ngắn hạn (NNH) và tổng tài sản (TTS) NNH/TTS Tỷ lệ nợ phải trả so với vốn chủ sở hữu (VCSH) NPT/VCSH Tỷ lệ giữa nợ dài hạn (NDH) và vốn thường NDH/VTX xuyên (VTX) Nguồn: Bài giảng Quản trị tài chính – Đoàn Gia Dũng 1.2 Ƣu nhƣợc điểm của việc tài trợ bằng nợ và vốn chủ sở hữu Các lý thuyết cấu trúc vốn hiện nay chủ yếu vẫn dựa vào mặt định tính mà vẫn chưa có được những định lượng cụ thể trong việc xác định cấu trúc vốn tối ưu và đây chính là vấn đề đang tạo ra khoảng cách giữa lý thuyết và thực tiễn.
Tuy nhiên, hầu hết các lý thuyết cấu trúc vốn đều chủ yếu xoay quanh hai thành tố chính của nguồn vốn là nợ và vốn chủ sở hữu.1 Ƣu nhƣợc điểm của việc tài trợ bằng nợ Ưu điểm lớn nhất của việc tài trợ bằng nợ đó là việc khấu trừ thuế thu nhập doanh nghiệp của phần lãi vay, hay sử dụng lá chắn thuế. Trong khi đó, cổ tức hay các hình thức khác của chủ sở hữu đều bị đánh thuế. Xét về lý thuyết, khi chúng ta sử dụng nợ thay cho vốn chủ sở hữu sẽ tạo ra một lượng lớn hơn thu nhập sau thuế và do đó làm tăng giá trị doanh nghiệp. Ưu điểm thứ hai của nợ, đó là thông thường tài trợ bằng nợ rẻ hơn vốn chủ sở hữu.
Nguyên nhân xuất phát từ việc l i vay được khấu trừ trước khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp, trong khi thu nhập của chủ sở hữu thì không. Do đó khi tăng nợ tức là giảm chi phí chi ra trên một đồng tiền mặt và vì thế làm tăng thu nhập sau thuế, cũng như giá trị của doanh nghiệp. Do đó, tỷ số nợ trên vốn chủ sỡ hữu còn được gọi là tỷ số đòn bẩy. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Tuy nhiên, tài trợ bằng nợ cũng không hẳn là hoản hảo bởi một sự giá tăng sử dụng nợ nhiều hơn sẽ làm gia tăng nguy cơ phá sản của doanh nghiệp.
Điều này gần như đồng nghĩa với một quy tắc trong tài chính là: Lợi nhuận càng cao, rủi ro càng lớn. Việc tài trợ bằng nợ rõ ràng sẽ tạo ra chi phí vốn nh cho doanh nghiệp, đồng thời làm tăng lợi nhuận cũng như giá trị doanh nghiệp. Vay nợ quá nhiều rồi sẽ đến lúc tạo ra gánh nặng trả nợ cho doanh nghiệp, đồng thời vay nợ quá nhiều cũng tạo ra lãi vay phải trả lớn. Điều này đồng nghĩa với việc để có thu nhập dương, doanh nghiệp cần phải tạo ra một khoản thu nhập trước thuế và l i vay đủ lớn để chi trả cho lượng lãi vay khổng lồ đó.
Do đó, hậu quả là sẽ dễ dẫn đến các sai lầm trong quản trị doanh nghiệp và tăng nguy cơ phá sản.2 Ƣu nhƣợc điểm của việc tài trợ bằng vốn chủ sở hữu Một trong những điểm bất lợi của vốn chủ sở hữu đó là giá thành (hay chi phí) của nó cao hơn chi phí của nợ do tác dụng của lá chắn thuế. Điều này là hiển nhiên bởi khi các nhà đầu tư đầu tư vào một doanh nghiệp, họ mong muốn nhận lại được nhiều hơn l i vay do các lí do về áp lực điều hành cũng như quản trị doanh nghiệp. Điều này cùng với tính chất không được miễn trừ thuế làm cho chi phí vốn chủ sở hữu càng cao hơn. Hệ quả tất yếu của sự việc trên là khi số người sở hữu doanh nghiệp ngày càng nhiều thì họ sẽ càng mong muốn có được mức lợi tức kỳ vọng cao hơn và do đó gây áp lực lớn lên quá trình quản trị hoạt động của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp, doanh nghiệp vẫn cần tăng vốn chủ sở hữu để làm cân bằng với nợ và đưa doanh nghiệp thoát kh i tình trạng tài chính không lành mạnh. Một lý do khác để doanh nghiệp tăng vốn chủ sở hữu là khi giá trị thị trường cổ phiếu của doanh nghiệp cao hơn giá trị nội tại, việc phát hành tăng vốn lúc này sẽ tạo ra lợi nhuận cho những nhà đầu tư hiện hữu.3 Vai trò của cấu trúc vốn 1.1 Đối với nhà quản trị doanh nghiệp Cấu trúc vốn giúp nhà quản trị dễ dàng hơn trong việc xác định các mục tiêu kế hoạch, đồng thời chủ động trong quá trình quản lý điều hành doanh nghiệp. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Thông qua cấu trúc vốn, nhà quản trị có thể gửi đến các nhà đầu tư những thông tin về chiến lược phát triển của doanh nghiệp mình. Tỷ trọng vốn vay trong cấu trúc vốn trong một thời gian dài sẽ cho biết doanh nghiệp có thường đi vay nợ hay không, và loại nợ mà doanh nghiệp ưa thích là nợ ngắn hạn hay dài hạn, hoặc để tài trợ cho các dự án của mình, doanh nghiệp sẽ chọn các phương án là huy động nợ hay vốn cổ phẩn.
Tất cả những thông tin trên sẽ được thể hiện phần nào nếu quan sát kỹ cấu trúc vốn của doanh nghiệp trong một thời gian.