CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG VỀ DỊCH VỤ TIỀN GỬI TIẾT KIỆM 1.1 Cơ sở lý thuyết về dịch vụ ngân hàng.1 Dịch vụ ngân hàng Dịch vụ theo phạm trù kinh tế được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa nhưng là phi vật chất. Cụ thể là những hoạt động và kết quả mà một bên (người bán) có thể cung cấp cho bên kia (người mua) và chủ yếu là vô hình không mang tính sở hữu. Dịch vụ có thể gắn liền hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất. và Mary Jo Bitner (2000), dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng.
Theo Kotler và Amstrong (2004), dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng. Khái niệm về sản phẩm nói chung là hết sức phức tạp, khái niệm về sản phẩm ngân hàng lại càng phức tạp hơn vì tính tổng hợp, đa dạng và nhạy cảm của hoạt động kinh doanh ngân hàng. Đứng trên góc độ thoả mãn nhu cầu khách hàng thì có thể hiểu dịch vụ ngân hàng là tập hợp những đặc điểm, tính năng, công dụng do ngân hàng tạo ra nhằm thoả mãn nhu cầu và mong muốn nhất định của khách hàng trên thị trường tài chính. Luật các tổ chức tín dụng tại khoản 1 và khoản 7 điều 20 cụm từ: “hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng” được bao hàm cả 3 nội dung: nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
Từ nguồn gốc đầu tiên, Ngân hàng là nhà đổi tiền, cho đến nay Ngân hàng cung cấp hàng loạt dịch vụ tài chính, nhiều hơn bất cứ một tổ chức nào khác trong nền kinh tế. Ngân hàng là một loại hình doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, cung cấp dịch vụ cho khách hàng, vì vậy tất cả các hoạt động nghiệp vụ của một NHTM đều được TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 coi là hoạt động dịch vụ. Quan niệm này phù hợp với thông lệ quốc tế, phù hợp với cách phân loại các phân ngành dịch vụ trong Hiệp định WTO mà Việt Nam cam kết, đàm phán trong quá trình gia nhập, phù hợp với nội dung Hiệp định thương mại Việt – Mỹ. Theo cách phân ngành kinh tế của Tổng cục Thống kê Việt Nam (2010) thì ngân hàng là ngành được phân tổ trong lĩnh vực dịch vụ.2 Các đặc điểm của dịch vụ ngân hàng Kotler và Amstrong (2004), dịch vụ có các đặc tính sau: (1) Tính vô hình (intangibility): Không giống như những sản phẩm vật chất, dịch vụ không thể nhìn thấy được, không nếm được, không nghe thấy được hay không ngửi thấy được trước khi sử dụng.
Để giảm bớt mức độ không chắc chắn, người mua sẽ tìm kiếm các dấu hiệu hay bằng chứng về chất lượng dịch vụ. Họ sẽ suy diễn về chất lượng dịch vụ từ địa điểm, con người, trang thiết bị, tài liệu, thông tin, biểu tượng và giá cả mà họ thấy. (2) Tính không đồng nhất (variability): Đây là tính khác biệt của dịch vụ, việc thực hiện dịch vụ thường khác nhau và thay đổi tùy thuộc vào khách hàng, cách thức phục vụ, nhà cung cấp dịch vụ, người phục vụ, thời gian thực hiện, lĩnh vực phục vụ, đối tượng phục vụ và địa điểm phục vụ,… (3) Tính không thể tách rời (inseparability): Trong ngành dịch vụ, cung ứng thường được thực hiện cùng một lúc với tiêu thụ. Do đó, nhà cung cấp khó che giấu lỗi hay những khiếm khuyết của dịch vụ vì nó không có khoảng cách thời gian từ sản xuất tới tiêu thụ như sản phẩm hữu hình.
(4) Tính không lưu giữ được (perishability): Dịch vụ không thể cất giữ, lưu kho rồi đem bán như hàng hóa khác. Tính không lưu giữ được của dịch vụ sẽ không thành vấn đề khi mà nhu cầu ổn định. Khi nhu cầu thay đổi, các công ty dịch vụ sẽ gặp khó khăn. (5) Tính đồng thời (simultaneity): Sản xuất và tiêu dùng xảy ra đồng thời (6) Không thể hoàn trả (rejects): Nếu khách hàng không hài lòng về dịch vụ cung ứng, khách hàng có thể được hoàn tiền nhưng không thể hoàn trả dịch vụ.
(7) Nhu cầu bất định (indefinite): Độ bất định nhu cầu dịch vụ cao hơn rất nhiều so với sản phẩm hữu hình. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 (8) Quan hệ cá nhân (personal relasionships): Dịch vụ có khuynh hướng bị ảnh hưởng bởi quan hệ qua lại giữa con người hơn sản phẩm hữu hình vì dịch vụ do con người thực hiện. Thí dụ: Trong khi khách hàng đánh giá chất lượng máy hút bụi bằng cách xem tấm thảm sạch thế nào thì họ đánh giá chất lượng dịch vụ làm sạch thảm qua cả dáng vẻ của tấm thảm và thái độ của người thực hiện. (9) Tính cá nhân (personal): Khách hàng thường đánh giá dịch vụ dựa vào cảm nhận cá nhân của mình.
(10) Tâm lý (mentality): Chất lượng dịch vụ được đánh giá theo trạng thái tâm lý của khách hàng. Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng là dịch vụ tài chính chủ thể cung cấp. Danh mục dịch vụ ngân hàng rất đa dạng, có thể tích hợp dịch vụ theo chiều dọc và chiều ngang. Cùng với khái niệm của dịch vụ NHT có những đặc trưng riêng bao gồm: Tính vô hình trong dịch vụ ngân hàng cũng được thể hiện thông qua việc khách hàng so sánh về chất lượng dịch vụ suy diễn từ địa điểm, con người, trang thiết bị, tài liệu, thông tin, biểu tượng và giá cả mà khách hàng đang sử dụng.
Tính không đồng nhất khách hàng cảm nhận và so sánh giữa các ngân hàng về cách thức phục vụ, người phục vụ, thời gian thực hiện có nhanh chóng hay không. Tính không thể tách rời về cung ứng và dịch vụ đối với ngân hàng cũng có khiếm khuyết khác nhau về thời gian vì giá cả của dịch vụ liên quan nhiều đến độ rủi ro. Tính không lưu giữ được đối với ngân hàng cũng không thể cất giữ, lưu kho để đem bán như hàng hoá được. Tính đồng thời ngay từ nghiệp vụ phát sinh khách hàng có thể đồng thời sử dụng được ngay (ví dụ như cho vay, khách hàng có thể nhận tiền để sử dụng được ngay); Không thể hoàn trả nếu khách hàng không hài lòng về dịch vụ cung ứng, khách hàng có thể được hoàn tiền nhưng khách hàng không thể hoàn trả dịch vụ; Nhu cầu bất định của khách hàng về dịch vụ luôn luôn mong muốn được thay đổi so với sản phẩm hữu hình.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Quan hệ cá nhân sự cảm nhận ảnh hưởng bởi quan hệ qua lại giữa khách hàng và nhân viên ngân hàng rất quan trọng; Tính cá nhân khách hàng thường đánh giá dịch vụ dựa vào cảm nhận cá nhân của mình; Tâm lý chất lượng dịch vụ được đánh giá theo trạng thái tâm lý của khách hàng. Ngân hàng luôn quan tâm đến tạo ra các sản phẩm dịch vụ phong phú, hấp dẫn, đầy ấn tượng để đáp ứng cho khách hàng nhằm tạo ra sự thuận lợi ngày càng tăng lên cho khách hàng. Khách hàng có thể hoàn toàn thỏa mãn tất cả các nhu cầu dịch vụ tài chính của mình thông qua một ngân hàng và tại một địa điểm. Thực sự ngân hàng đã trở thành “bách hóa tài chính” ở kỷ nguyên hiện đại, công việc hợp nhất các dịch vụ ngân hàng, cho vay, tiền gửi, bảo hiểm, môi giới chứng khoán,… chính là xu hướng mà người ta thường gọi là Universal Banking ở ỹ, Canada và Anh, là Allginanz ở Đức.3 Chất lượng dịch vụ ngân hàng Chất lượng dịch vụ là một khái niệm gây nhiều chú ý và tranh cãi trong các nghiên cứu vì sự khó khăn trong cả định nghĩa và đo lường nó.
Chất lượng dịch vụ được định nghĩa bằng nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào đối tượng nghiên cứu và môi trường nghiên cứu. Theo Parasuraman & nhóm tác giả (1985, 1988), chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi của khách hàng và nhận thức của họ khi đã sử dụng qua dịch vụ. Theo Zeithaml giải thích: Chất lượng dịch vụ là sự đánh giá của khách hàng về tính siêu việt và tuyệt vời nói chung của một thực thể. Nó là một dạng của thái độ và các hệ quả từ một so sánh giữa những gì được mong đợi và nhận thức về những thứ ta nhận được.
Như vậy, chất lượng dịch vụ có thể định nghĩa là sự khác biệt giữa mong đợi của khách hàng và dịch vụ nhận biết được. Nếu mong đợi của khách hàng lớn hơn sự thực hiện thì chất lượng nhận biết được kém thỏa mãn, khách hàng không hài lòng. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Chất lượng dịch vụ ngân hàng thể hiện rõ nét từ lợi thế của các ngân hàng khác nhau phụ thuộc vào sản phẩm dịch vụ có chất lượng tốt, quảng cáo dễ hiểu, trung thực gây được sự chú ý, sản phẩm đa dạng thuận tiện cho khách hàng chọn lựa; Thương hiệu có uy tín đảm bảo các cam kết hợp đồng với khách hàng; Trụ sở các chi nhánh khang trang, trung tâm và mạng lưới các phòng giao dịch bao trùm rộng khắp các quận, huyện, các phường để đảm bảo thuận tiện, tiết kiệm thời gian và an toàn, an ninh cho khách hàng đến giao dịch. Đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp có năng lực tạo mối quan hệ tốt trong việc phát triển quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng.
Khách hàng sẽ cảm nhận được sự yên tâm, hài lòng khi nhận được sự tư vấn của họ. Điều đó làm hình ảnh của ngân hàng có ấn tượng sâu sắc trong lòng khách hàng. Chất lượng dịch vụ ngân hàng hiện nay đặc biệt quan tâm đến: Thời gian xử lý các sản phẩm và dịch vụ chủ yếu như cho vay, mở tài khoản mới, tiền gửi tiết kiệm, thẻ AT , thẻ tín dụng, chi trả séc. Thời gian chờ đợi như thời gian máy chạy chậm hoặc bị sự cố phải sửa chữa và thời gian xếp hàng, ngân hàng phải quan tâm chăm sóc khách trong thời gian chờ đợi.
Việc tiếp nhận và xử lý giải quyết thư hoặc lời khiếu nại của khách hàng có thỏa đáng hay không. Đặc biệt quan tâm và đầu tư đối với năng lực và tính cách thân thiện của nhân viên. Cập nhật tức thời khi có thông tin và phải chính xác, kịp thời của bảng thông báo tài khoản và hồ sơ giao dịch. Lãi suất phù hợp, bao gồm cho tất cả mọi dịch vụ và các khoản phí không thông báo khác.