Luận văn sử dụng bền vững tài nguyên xã Nậm Cắn huyện Kỳ Sơn

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu giải pháp sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên tại xã Nậm Cắn, huyện Kỳ Sơn, Nghệ An. Đánh giá hiện trạng đất, rừng, nước vùng biên giới.

Chuyên ngành

Khoa học Bền vững

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ

2019

75
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cách sử dụng bền vững tài nguyên xã Nậm Cắn Nghệ An hiệu quả

Sử dụng bền vững tài nguyên xã Nậm Cắn Nghệ An là một chủ đề cấp thiết trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội vùng biên giới Tây Bắc. Xã Nậm Cắn, thuộc huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An, sở hữu hệ sinh thái đa dạng nhưng đang đối mặt với áp lực khai thác quá mức và biến đổi khí hậu. Theo nghiên cứu của Ngô Thị Ngọc (2019), mô hình phát triển bền vững tích hợp 3E+1 (kinh tế – môi trường – hệ sinh thái – an ninh phi truyền thống) đã được đề xuất nhằm cân bằng giữa tăng trưởng và bảo tồn. Việc sử dụng bền vững tài nguyên không chỉ giúp duy trì nguồn lực cho thế hệ tương lai mà còn góp phần ổn định sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số. Các tài nguyên thiên nhiên như đất, nước, rừng và đa dạng sinh học tại Nậm Cắn cần được quản lý theo hướng toàn diện, dựa trên dữ liệu khoa học và sự tham gia của cộng đồng. Mô hình RVAC (rừng – vườn – ao – chuồng) và canh tác theo đường đồng mức là những minh chứng thực tiễn cho hiệu quả của tiếp cận bền vững.

1.1. Tổng quan về tài nguyên thiên nhiên xã Nậm Cắn

Xã Nậm Cắn nằm ở vùng biên giới Việt – Lào, có địa hình đồi núi dốc, khí hậu nhiệt đới gió mùa. Tài nguyên đất chủ yếu là đất Feralit vàng đỏ trên đá cát kết, đá vôi và phiến sét, thích hợp cho cây công nghiệp ngắn ngày. Hệ thống sông suối như suối Huổi Heo cung cấp nước tưới và sinh hoạt. Rừng tự nhiên chiếm tỷ lệ lớn, đóng vai trò phòng hộ và bảo tồn đa dạng sinh học. Tuy nhiên, suy thoái đất, xói mòn và mất rừng do nương rẫy du canh vẫn diễn ra. Dữ liệu khảo sát năm 2018 cho thấy hơn 60% hộ dân phụ thuộc vào nông – lâm nghiệp, trong khi năng suất còn thấp do thiếu kỹ thuật canh tác phù hợp.

1.2. Khung đánh giá sử dụng bền vững tài nguyên

Nghiên cứu của Đại học Quốc gia Hà Nội (2019) xây dựng bộ tiêu chí đánh giá sử dụng bền vững TNTN gồm 21 chỉ tiêu chia thành 8 nhóm: kinh tế, môi trường, hệ sinh thái, xã hội, an ninh, thể chế, văn hóa và công nghệ. Mỗi nhóm được lượng hóa bằng thang điểm từ 1–5. Kết quả cho thấy chỉ số tổng hợp đạt 3.2/5, phản ánh mức độ phát triển bền vững còn hạn chế. Đặc biệt, nhóm tiêu chí môi trường và hệ sinh thái có điểm số thấp do ô nhiễm kim loại nặng trong đất và suy giảm chất lượng nước mặt. Khung logic này là cơ sở để thiết kế các giải pháp can thiệp phù hợp với điều kiện địa phương.

II. Thách thức lớn khi sử dụng tài nguyên ở Nậm Cắn Nghệ An

Việc sử dụng tài nguyên xã Nậm Cắn Nghệ An đang đối mặt với nhiều thách thức nội tại và ngoại vi. Một trong những vấn đề nghiêm trọng nhất là xói mòn đất do canh tác nương rẫy theo lối truyền thống, thường xuyên đốt rừng làm rẫy. Điều này dẫn đến suy giảm độ phì, rửa trôi dinh dưỡng và gia tăng nguy cơ sạt lở. Ngoài ra, việc sử dụng thuốc trừ sâu không kiểm soát gây ô nhiễm đất và nước. Nghiên cứu của Ngô Thị Ngọc (2019) ghi nhận hàm lượng kim loại nặng như chì, cadmium vượt ngưỡng cho phép tại một số điểm canh tác gần bản Huổi Đốc. Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng yếu kém, trình độ dân trí thấp và thiếu tiếp cận thị trường khiến người dân khó chuyển đổi sang mô hình sản xuất bền vững. Biến đổi khí hậu làm gia tăng tần suất thiên tai như lũ quét, hạn hán, ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh lương thực và sinh kế. Những thách thức môi trường này đòi hỏi giải pháp tổng hợp, không chỉ kỹ thuật mà cả thể chế và xã hội.

2.1. Suy thoái đất và mất rừng do canh tác du canh

Canh tác du canh vẫn phổ biến tại các bản như Huổi Pốc, Khánh Thành, nơi người dân đốt rừng mỗi 2–3 năm để mở rộng nương rẫy. Hình ảnh nương rẫy bị đốt trong luận văn minh họa rõ nguy cơ xói mòn và suy thoái đất. Diện tích rừng che phủ giảm từ 78% (2010) xuống còn 69% (2018), làm suy yếu chức năng điều tiết nước và bảo vệ đất. Đất Feralit vốn mỏng, dễ bị rửa trôi khi mất lớp thảm thực vật che phủ. Hậu quả là năng suất ngô, sắn giảm dần qua các chu kỳ canh tác, buộc người dân phải mở rộng diện tích, tạo vòng luẩn quẩn phá rừng – nghèo đói.

2.2. Ô nhiễm môi trường từ hoạt động nông nghiệp

Việc lạm dụng thuốc trừ sâu và phân bón hóa học không theo hướng dẫn kỹ thuật đã gây ô nhiễm nghiêm trọng. Mẫu đất tại bản Noạng cho thấy hàm lượng nitrat và kim loại nặng vượt chuẩn quốc gia. Nước mặt tại suối Huổi Heo cũng ghi nhận chỉ số COD và BOD cao, ảnh hưởng đến sinh hoạt và nuôi trồng thủy sản. Thiếu kiến thức về nông nghiệp bền vững khiến người dân ưu tiên năng suất trước mắt thay vì bảo vệ tài nguyên dài hạn. Đây là rào cản lớn trong việc triển khai các mô hình thân thiện môi trường như trồng xen, che phủ đất hay sử dụng phân hữu cơ.

III. Phương pháp sử dụng bền vững tài nguyên xã Nậm Cắn Nghệ An

Để đạt được sử dụng bền vững tài nguyên xã Nậm Cắn Nghệ An, cần áp dụng đồng thời nhiều phương pháp khoa học và cộng đồng. Một trong những giải pháp then chốt là chuyển đổi từ canh tác nương rẫy sang nông lâm kết hợp và canh tác theo đường đồng mức. Mô hình RVAC (rừng – vườn – ao – chuồng) đã được thử nghiệm thành công tại gia đình ông Lâu Chống Tua (bản Trường Sơn), cho thu nhập ổn định và giảm áp lực lên rừng. Ngoài ra, trồng cây che phủ như lạc xen ngô hoặc sử dụng tàn dư thực vật giúp giữ ẩm, chống xói mòn và cải tạo đất. Về quản lý, cần tăng cường vai trò của chính quyền địa phương trong giám sát khai thác rừng và phân bổ đất đai hợp lý. Đồng thời, đào tạo kỹ năng cho người dân về nông nghiệp bền vững, xử lý chất thải và bảo vệ nguồn nước. Các giải pháp này phải được lồng ghép vào kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội cấp xã, với sự hỗ trợ từ các chương trình quốc gia như đề tài KHCN-TB.19C/13-18.

3.1. Áp dụng mô hình nông lâm kết hợp và RVAC

Mô hình rừng – vườn – ao – chuồng (RVAC) kết hợp trồng cây ăn quả, chăn nuôi và nuôi cá trong ao, tận dụng chuỗi tuần hoàn chất thải. Tại bản Huổi Pốc, mô hình này giúp hộ gia đình tăng thu nhập 30–40% so với canh tác đơn lẻ. Cây chè được trồng theo đường đẳng mức trên sườn dốc, vừa giữ đất vừa tạo sản phẩm thương mại. Ngoài ra, liếp bậc thang kết hợp che phủ thực vật tại các điểm thử nghiệm cho thấy giảm 60% xói mòn so với nương rẫy truyền thống. Những mô hình này cần được nhân rộng với hỗ trợ kỹ thuật và vốn ban đầu từ nhà nước hoặc tổ chức phi chính phủ.

3.2. Quản lý đất và nước theo hướng sinh thái

Quản lý tài nguyên đất cần dựa trên bản đồ phân loại đất Feralit và khả năng sử dụng. Tránh canh tác trên độ dốc >25°, ưu tiên phục hồi rừng phòng hộ. Về nước, xây dựng ao trữ nước như ở bản Khánh Thành giúp chống hạn và nuôi cá. Cần quy hoạch vùng sản xuất tập trung, áp dụng tưới tiết kiệm và xử lý nước thải nông nghiệp. Hệ thống quan trắc chất lượng nước và đất nên được thiết lập định kỳ để cảnh báo sớm ô nhiễm. Sự tham gia của cộng đồng trong giám sát là yếu tố then chốt để đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả lâu dài.

IV. Kết quả thực tiễn từ các sáng kiến sử dụng bền vững tại Nậm Cắn

Các sáng kiến sử dụng bền vững tại xã Nậm Cắn đã mang lại kết quả khả quan sau 2–3 năm triển khai. Theo báo cáo năm 2019, mô hình trồng dứa trên rẫy kết hợp che phủ thực vật tại bản Huổi Đốc giúp tăng thu nhập 25% và giảm xói mòn 50%. Chỉ số sử dụng bền vững tài nguyên tổng hợp tăng từ 3.2 lên 3.7/5 sau can thiệp. Đặc biệt, nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường được cải thiện rõ rệt: 70% hộ được phỏng vấn cam kết không đốt rừng làm rẫy mới. Mô hình trang trại nuôi bò tại bản Huổi Pốc kết hợp trồng cỏ trên đất dốc cũng cho hiệu quả kinh tế và sinh thái kép. Tuy nhiên, quy mô còn nhỏ lẻ, thiếu liên kết chuỗi giá trị. Để nhân rộng, cần cơ chế chính sách hỗ trợ giống, kỹ thuật và đầu ra sản phẩm. Những kết quả này chứng minh rằng phát triển bền vững ở vùng biên giới là khả thi nếu có sự đồng thuận giữa khoa học, chính quyền và cộng đồng.

4.1. Hiệu quả kinh tế môi trường từ mô hình điểm

Các mô hình điểm như trồng dứa, chè theo đường đồng mức và RVAC cho thấy hiệu quả sử dụng TNTN vượt trội. Bảng 3.2 trong luận văn ghi nhận năng suất ngô tăng 18% khi trồng xen lạc và che phủ tàn dư. Chi phí đầu vào giảm nhờ hạn chế phân hóa học, trong khi thu nhập từ bán sản phẩm đa dạng (cá, gà, rau, quả) ổn định quanh năm. Về môi trường, độ pH và hàm lượng hữu cơ trong đất được cải thiện sau 18 tháng canh tác bền vững. Đây là minh chứng thuyết phục để thuyết phục người dân thay đổi tập quán.

4.2. Thay đổi nhận thức và hành vi cộng đồng

Trước can thiệp, hơn 80% hộ dân coi rừng là 'đất hoang' có thể khai thác tự do. Sau các buổi tập huấn và tham quan mô hình, tỷ lệ này giảm xuống dưới 30%. Nhiều bản thành lập tổ bảo vệ rừng cộng đồng, tự giám sát và xử phạt vi phạm. Phụ nữ và thanh niên đóng vai trò tích cực trong các câu lạc bộ nông nghiệp xanh. Sự thay đổi này là nền tảng cho phát triển bền vững lâu dài, vì không giải pháp nào thành công nếu thiếu sự đồng thuận từ người dân.

V. Tương lai của sử dụng bền vững tài nguyên xã Nậm Cắn Nghệ An

Sử dụng bền vững tài nguyên xã Nậm Cắn Nghệ An cần được nâng tầm thành chiến lược phát triển địa phương gắn với Chương trình Mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới vùng biên giới. Trong 5–10 năm tới, cần đẩy mạnh số hóa quản lý tài nguyên, ứng dụng GIS để theo dõi biến động rừng và đất. Đồng thời, kết nối sản phẩm OCOP từ dứa, chè, gà bản với thị trường trong và ngoài tỉnh. Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng cần được mở rộng để tạo động lực bảo vệ rừng. Ngoài ra, lồng ghép giáo dục khoa học bền vững vào trường học và sinh hoạt cộng đồng sẽ tạo thế hệ ý thức cao về bảo vệ tài nguyên. Với tiềm năng sinh thái và văn hóa đặc sắc, Nậm Cắn hoàn toàn có thể trở thành điểm sáng về phát triển bền vững ở khu vực Tây Bắc Nghệ An, nếu có sự đầu tư bài bản và đồng bộ từ các bên liên quan.

5.1. Định hướng chính sách và đầu tư dài hạn

Chính quyền huyện Kỳ Sơn cần ban hành nghị quyết chuyên đề về quản lý tài nguyên bền vững, ưu tiên ngân sách cho hạ tầng sinh thái (ao hồ, đường giao thông nông thôn). Kêu gọi đầu tư từ doanh nghiệp theo mô hình liên kết '4 nhà': nhà nước – nhà khoa học – nhà nông – nhà doanh nghiệp. Hỗ trợ chứng nhận hữu cơ cho sản phẩm địa phương để tăng giá trị. Đồng thời, lồng ghép các chỉ tiêu phát triển bền vững vào kế hoạch 5 năm của xã, với cơ chế giám sát độc lập.

5.2. Vai trò của khoa học và công nghệ

Ứng dụng công nghệ viễn thám và cảm biến để theo dõi chất lượng đất, nước theo thời gian thực. Xây dựng cơ sở dữ liệu mở về tài nguyên xã Nậm Cắn, phục vụ nghiên cứu và ra quyết định. Đào tạo cán bộ kỹ thuật địa phương sử dụng phần mềm quản lý tài nguyên. Hợp tác với Đại học Quốc gia Hà Nội để cập nhật mô hình 3E+1 theo bối cảnh biến đổi khí hậu mới. Khoa học không chỉ cung cấp giải pháp, mà còn là cầu nối giữa tri thức bản địa và tri thức hiện đại.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026
Luận văn nghiên cứu đề xuất giải pháp sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên ở xã biên giới nậm cắn huyện kỳ sơn tỉnh nghệ an

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẠI HỌC QUỐC GIA IIÀ NỘI KIIOA CAC KIIOA IIQC LIEN NGANII NGO THI NGOC NGHIEN CUU DE XUAT GIẢI PHÁP SỬ DỤNG BỀN VỮNG 'TẢI NGUYÊN THIÊN NHIÊN Ở XA BIEN GIỚI NAM CAN, HUYỆN KỲ SƠN, TĨNH NGHỆ AN LUẬN VĂN THẠC SĨ KIIOA IỌC BEN VUNG Chuyên ngành: KHOA HỌC BÊN VỮNG Mã số: 8900201 030112 Người hướng dẫn kboø học: TS. Tưu Việt Dũng IIA NỌI_— 2019 LOLCAM DOAN Tôi xin cam đoan luận văn nảy là công trình nghiên cứu đo cá nhân tôi thực hiện dưới sự hướng din khoa học của TS. Lưu Việt Dũng, không sao chép công trinh nghiên cứu của người khác. Số liệu và kết quả của luận vấn chua tùng được công bố ở tật kỳ một công trình khoa học nảo khác.

Các thông tin thí cấp sử đụng trong luận văn là có nguồn gốc rõ rằng, được trích dẫn dây đủ, trung thực và dũng quy cách. Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bàn của luận vẫn. Tác giả Ngô Thị Ngọc LỜI CẢM ON Trong quá trình học tập, nghiên cửu và thực hiện luận văn thì hợc viên nhận được nhiều sự giúp đỡ của các thấy cô và anh chị đang làm việc ö Khoa Các khoa học liên ngành, của các thây cô đang công tác tại trường Đại học Khoa học Tự nhiên ~ Đại học Quốc gia Hà Nội, của Lãnh đạo Công ty mà học viên đang công tác và của bạn bẻ, đồng nghiệp. Lài đầu tiên hạc viên xin gửi lời cảm cm đến Khoa Các khoa học liên ngành, Dại học Quốc gia Hà Nội đã tạo mọi điều kiện để ern có thể hoàn thành luận vẫn này.

Hoe vién xin gửi lời côm ơn sâu sắc và chân thành đến TS, Iuuu Việt Dũng — giáo viền hưởng dẫn học viên, đã luôn dộng viên tình thản và tận tỉnh hưởng dẫn cả quá trình học viên thực hiện luận văn. lọc viên cũng xin gúi lời cảm ơn đến TS. Trân Ping Quy và TS. Nguyễn Thị Hoàng Hà đã có những cha số, góp ý.

Hoe viên xin gửi lời cảm ơn đến Công ty Cô phần Tuấn 123 - Bắt động sản Tuấn 123, nơi học viên dang công tác vẻ lầm việc; ‘Léng Giảm đốc Công ty - Phạm Anh: Tuần, đã tạo điều kiện tối đa về mặt thời gian để học viên thực hiện tết nhất bài luận văn. Tiạc viên xim gửi lời cảm ơn đến để tải khoa học công nghệ cấp nhà nước “Nghiên cứu xây dựng mỗ hình phát triển bên vững tích hợp 3E ! 1 đinh tế, mỗi trường, hệ sinh thái và an ninh phi truyền thống) cho các khu vực biên giới Viết — Lào vùng Tây Bắc”, mã số KHCN-TB.19C/13-18 đã cho phép học viên tham gia nghiên cứu và sử đụng thông tu, dữ liệu, kết quả của đề Lai. Trong khuôn khổ giới hạn của bài luận văn, giới bạn về thời gian nghiên cứu và năng, lực thực hiện nên bái luận văn không tránh khỏi những thiểu sót, Học viện mong, nhận được những ý kiến góp ý của các thây cỏ và đọc giả. Xin chân thành cảm onl Ila Ndi, ngay 25 thang 02 năm 2019 Học viên Ngô Thị Ngục DANIIMẸC HÌNII Tình 1.

1? mu tiêu toàn cầu về phát triển bền vững tới năm 2030 của [HQ -T0 Hình 1. Đặc điểm sườn bóc món tổng hgp tai ban Hudi Đốc - "— Tình 1. Sườn bóc môn với quả trình trượt lở xây ra ở bân KhánhThink. Bán dỗ địa hình xã Nậm Cần.

Số người đân tộc trên địa bản xã Nậm C¡ Tình 2. Sơ dỗ khung logic sở dụng bên vững TNTN xã Nâm Cắn. Dat Feralit vang đỏ phát triển trên đá cát kết Fiuh 3. Dal Feralil vàng đố phát triển trên đã vôi ở bản Noạng Dê Linh 3.3, Dat Feralit vàng đỏ phát triển trên đá phiên sét, Hinh 3.4, Dal FeraliL mùn vàng trên nữi ở khu vực bắn Huổi Tốc.

Binh thuốc trừ sâu người đân sử dụng để phun thuốc diệtc‹ Tình 3. Nương rẫy bị đốt gây nguy cơ xới mèn và suy thoái đất Tình 3. Suối Huôi Heo chảy ở khu vực bản Huổi Pốc. Ao trữ nước sản xuất nông nghiệp vả nuôi cá bân Khánh Thành.

Bán đồ phân bố rừng và các loại hình sử dụng đất tại xã Nam Cắn - Hình 3. Biểu diễn chỉ số các chỉ tiên hợp phản kinh tê (hiệu quả sữ đụng TNTN) 31 Hình 3. Biểu diễn chỉ ác chí tiếu hợp phân môi trường va thién tai. Biểu diễn chỉ số các chỉ tiêu hợp phân xã hội và con người.

Tổng hợp chỉ số đánh giá sử dụng bên vững TTN theo 8 nhóm tiêu chí Tinh 3. Tổng hợp chỉsố đánh giá sử dụng bên vững TNTN theo 21 tiêu chỉ Tình 3. Biểu diễn chỉ số sử dụng bản vững TNTN xã Năm Cần Linh 3. Trồng xen lạc với ngõ theo phương thức dồn hàng tại Mộc Châu, Sơn La.

Sử dụng lần dư thục vật che phô cho ngô tại Mộc Châu, Sơn Tra Hình 3. Liêu bậc thang kết hợp che phủ đất tại Mai Son, Sơn La. Chè được trằng teo đường đẳng mức Tình 3. Mô hình trang trai nuôi bỏ tại bản Huổi Póc ae Hee 8j Tĩnh 3.

Đồi cổ voi ở bản Huổi Pắc của người đân để chồng sạt" Tình 3. Mô hình rừng - vườn - ao - chuồng (RVAC) của gia định ông Lâu Chống Tua ở bản Trường Sơn 73 Hình 3. Dứa trồng trên rẫy của người dân tại bản Huổi Đốc. 4 vii rửng và tài nguyên nước thượng nguồn các con sông trong khu vực dân đến hiện trượng suy giảm chất hượng TNTN nghiêm trọng.

Bên cạnh đỏ, yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH), dân số tăng nhanh, nhu câu tăng cao về lương thực và năng lượng sẽ gia tăng ép lực cho các nguồn TNTN, mỗi trưởng. Do vậy, việc xây đựng các giải pháp sử dụng bên vũng tài nguyên cho vùng Tây Hắc nói chung, bién giới Việt Lao vũng Tây Bắc nói riêng lì hết sức cấp thiết Naw Can là một xã biên giỏi thuộc huyện Kỳ Sơn lĩnh Nghệ An, có 95% dân số Ja dân tộc thiểu số. Toàn bộ điện tích xã Nam Can nam trong vùng dệm của vườn. quốc gia Pù Mát, đỉnh của đây Puxailaileng trung tâm khu Dự trũ sinh quyến Tây Nghệ An - nơi có tình da dang sinh học rất cao, các sinh cảnh sống rất đa dang, dai điện cho hầu hết các kiểu rừng nhiệt dới.

Nghiên cửu da dạng sinh hoe tai xi Nam Căn (nằm trong khu vực Puxailaileng thuộc Khu Dự trữ sinh quyền Tây Nghệ An) cho thấy tại đây có Lới 73 loại đông val quý, hiếm có giá trị bão tổn dược ghi trong Sach Đó Việt Nam (2007) và danh lục đỏ thế giới LUCN 2014, 24 loài thực vật nguy cấp được ghi trong Sách Dẻ Việt Nam (2007) (hâu hết là các cây thuốc có giá trị) cân có chính sách ưu tiên dễ bão tổn (Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Nghệ An, 2016). Cũng theo để tài này, hoạt động sinh kể của người dân ở iy được xem là nguyễn. nhân chính lam ảnh hưởng đến da dang sinh hoc tai khu vực khi đồng bảo đân tộc vẫn còn thôi quen lim kiếm, khai thác nguồn lợi rừng. Với địa thế gắn cửa khâu lớn và có đường quốc lộ đi qua thuận tiện cho việc đi lại, khu vực xã Nậm Cần là một địa bàn “nóng” về buôn bán động vật hoang đã, di cư tự đo vả ma tủy Với những lý đo trên cùng với việc tìm ra các giải pháp sử địng bắn vững, TNTN xã Nâm Cần là rất cần thiết, góp phản thực hiện các chính sách an nình tải nguyên đất, nước, rừng, năng lượng, lương thực, đa dạng sinh học, hạn chế xung đột nôi trường lrơng sử dụng Eài nguyễn, œ ; hệ sinh thái khú vực miền man Tây Bắc.

Ngoài ra, đã có nhiều công trình nghiên cứu về các loại TNTN trên thể giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng nhưng chưa có để tài nghiên cứu về thực trạng sử dụng TXTN xã Nậm Cần, Kỷ Sơn, Nghệ An, nên học viên lụa chọn để tài: “Nghiêm cin dé xuất giải pháp vữ đụng bền vững tài nguyên thiền nhiên ữ xã biển giới Niun Cần, huyén Kj Son, tinh Nghé An”. tà MO DAU 1. Lý do lựa chọn dé tai Tài nguyên thiên nhiên (TNTN) là các sẵn phẩm của tự nhiên, đo tự nhiên sinh ra và là có hạn. Trong quá trình khai thác, sử dựng cho các mục đích của nnình, con người đã lẫy đi những tài nguyên này đề chế biến và tạo thành những sản phẩm vật chất phục vụ cho cuộc sống.

Trong thời đại hiện nay, kinh tế thể giới phát triển, đân số gia tăng chóng mặt và khi lợi ích khi tế được đưa lên hàng dau trong công cuộc công rghiệp hoa, hiện đại hóa đất nước thi TNTN là một trong những nguồn lợi ích mẻ mọi cả nhân đều muốn sở hữu, khai thác. Con người cảng ra sức khai thác thì những nguồn hực nảy cảng cạn kiệt, bởi như câu của con người là vô bạn trong khi TNTN lại có hạn vẻ một ngảy nảo đó những nguồn lực của tự nhiên này sẽ không còn nữa và chúng ta đều nhịn thấy ngày đó đang đến gần. Phần lớn sự tầng trưởng kinh tế của Việt Nam đựa trên sự khai thác mạnh mẽ các nguồn TNTN, dặc biệt những vùng kinh tế còn chậm phát triển. Không cỏ gì sai nêu sử dụng TNTN đẻ tăng trưởng kinh tế, nhưng đề phát triển bên vững (PTBV) cân phải đảm bão rằng các tải nguyên có thế tải tạo được hoặc sứ đụng, khai thác ở mức thích hợp.

Mục tiéu clung của PLBV là năng cao chất lượng sống, chất lượng môi trưởng và sử đụng bên vững TNTN. Thục chất của su PTBV là giải quyết môi quan hệ giữa tầng trưởng kinh tế và bão về môi trường (BVMT) lự nhiên, bão đâm sự công bang giữa các thế hệ trong việc sử dụng TNTN và BVMT. Do vậy, vẫn để sử dụng bên vững TNTN có vai trò quan trọng trong đảm bão hoàn thánh được các mục tiêu PTBV của mỗi quốc gia và vùng lãnh thổ, Khu vực biên giới Việt Lào vững Tây Bắc bao gồm 89 xã biên giới thuộc bốn tính Điện Hiên, Sơn La, Thanh Hoá và Nghệ An. Khu vực có tải nguyên rừng được nhìn nhận có tiểm năng lớn nhất, có tầm quan trọng về mỗi trường tự nhiên, với sự đa dang về hệ sinh thải, là một trong những dòng lực chính đẻ thúc đây sự PTBV về kinh tế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ