Chương 1: Tội giết người theo quy định của BLHS Việt Nam hiện hành. Chương 2: Tội giết người theo quy định của BLHS Lào — So sánh với BLHS Việt Nam. TOI GIET NGƯỜI THEO QUY ĐỊNH CUA BLHS VIET NAM HIEN HANH Trong BLHS Việt Nam năm 1985 va các van bản pháp luật hình sự trước năm 1999 thì tội giết người bao gồm tất cả các trường hợp giết người được luật hình sự quy định. Vì vậy nghiên cứu tội giết người trong các văn bản đó cũng đồng thời là nghiên cứu tội giết người trong nói chung.
Tuy nhiên, tội giết người được đề cập trong luận văn này chỉ là trường hợp giết người được quy định tại Điều 93 BLHS năm 1999. Những trường hợp giết người khác như giết con mới đẻ (Điều 94 BLHS), giết người trong trạng thái tỉnh thần bị kích động mạnh (Điều 95 BLHS) và giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 96 BLHS) chỉ được nghiên cứu ở từng khía cạnh nhất định dé so sánh với tội giết người tại Điều 93. Định nghĩa tội giết người BLHS Việt Nam không quy định định nghĩa tội giết người trực tiếp trong Bộ luật. Tuy nhiên trong khoa học pháp lý hình sự cũng có nhiều cách định nghĩa khác nhau.
Theo quan điểm của tác giả tại cuốn “Hệ thong hóa luật lệ về hình su” thì: “7ội giết người là hành vì cô ý tước đoạt trái pháp luật tính mạng người khác ”. Theo các tác giả này, tội giết người được hiểu rất đơn giản, đó là hành vi “tước đoạt tính mạng của người khác ”. Theo cuỗn Đại từ dién Tiếng Việt “tước đoạt tính mạng” là “tước và chiếm lấy sự sống của con người”. Như vậy “tước đoạt” đã bao hàm cả sự cô ý nên việc quy định thêm cả cụm từ “có ý” là không cân thiết.
Quan điểm thứ hai cho rằng: “7i giết người là hành vi trái pháp luật của người đủ năng luc TNHS cô y tước bỏ quyên sống của người khác ”. Theo quan điểm này, hành vi giết người là hành vi “cố ý ước bỏ quyên sống của người khác”, » tương tư quan điểm trên,Lì cụm v từ tước bỏ cũng đã bao hàm sư cô ý. Quan điểm này đã đề cập đến dấu hiệu năng lực TNHS và dấu hiệu tuôi. Một quan điểm khác lai cho rang: “7i giết người là hành vi làm chết người khác một cách cố ý và trai pháp luật”.
Như vay, cả ba quan điểm trên đều đã nêu được ban chất của tội giết người, đó là hành vi cỗ ý và hậu quả của hành vi phải là làm chết người khác. Tuy nhiên, xuất phát từ khái niệm tội phạm theo Điều 8 BLHS 1999 Việt Nam “ t6i phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực TNHS thực hiện một cách cô hoặc vô ý, xâm phạm. ”, có thé thay các khái niệm về tội giết người đưa ra trên chưa đầy đủ và chưa chính xác. Quan điểm thứ nhất và quan điểm thứ ba chưa đề cập đến dấu hiệu năng lực TNHS và dấu hiệu tuổi.
Từ phân tích trên có thé đưa ra định nghĩa tội giết người như sau: Tội giết người là hành vi cố ý gây ra cdi chết cho người khác một cách trái pháp luật, do người có năng lực TNHS và du tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện. Dấu hiệu pháp lý của tội giết người theo quy định của BLHS Việt Nam 1. Khách thé của tội giết người 1. “ Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hai” [20, 78].
Tội giết người trực tiếp xâm phạm dé một khách thé rất quan trọng đó là quan hệ nhân thân mà nội dung là quyền sống của con người. Trong số các quyền nhân thân, quyền sống của con người là một trong những quyền cơ bản, tự nhiên, thiêng liêng và cao quý nhất, được ghi nhận tại Điều 20 của Hiến Pháp Việt Nam năm 1992 (sửa đôi bổ sung năm 2013) : “Công dan có quyên bat khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tinh mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự ”[15, 22] Thực tiễn ngày nay đã khăng định vị trí, vai trò của con người trong tiễn trình phát triển lịch sử nhân loại. Con người được coi là chủ thể của mọi sang tạo, moi nguồn gốc của cải, vật chất và văn hóa, mọi nền văn minh của các quốc gia. Khi quyền sống của con người bị xâm phạm thì mục tiêu, động lực của sự nghiệp xây dựng xã hội sẽ bị triệt tiêu, sẽ không còn ton tại.
Chính vì vậy mà mục tiêu bảo vệ quyền sống của con người luôn được đặt lên hàng đầu đối với mọi dân tộc, mọi quốc gia, mọi thời kỳ và mọi chế độ. Từ ý nghĩa đặc biệt quan trọng của quyền sống con người mà tội giết người được coi là tội nguy hiểm nhất trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh sự của con người được quy định tại Chương XII BLHS 1999 và được đặt ngay sau các tội xâm phạm an ninh quốc gia. Tội giết người xâm phạm quyền sống của con người thông qua sự tác động làm biến đổi tinh trạng bình thường của đối tượng tác động — con người đang sống. Việc xác định đúng đối tượng tác động của tội giết người có ý nghĩa vô cùng quan trọng.
Bởi lẽ nếu hành vi nào đó tác động vào đối tượng không phải hay chưa phải là con người thì không xâm phạm đến quyền sống của con người nên không phạm tội giết người. Khái niệm con người đang sống là đối tượng tác động của loại tội phạm này bao gồm tất cả mọi người ton tại với tư cách là một thực thé sống độc lập. Vậy thế nào là con người đang sông? Hiện nay trong BLHS cũng như các văn bản dưới luật khác chưa quy định cụ thé về van dé này. Do đó trên thực tế, quan niệm về thời điểm bắt đầu và kết thúc sự sống của con người còn nhiều vẫn đề bàn cãi và tranh luận.
e Quan niệm về thời điểm bắt đầu sự sống của con nguoi Do cách nhìn nhận, đánh giá khác nhau về thời điểm sinh ra đứa trẻ nên có nhiêu quan điêm xung quanh về vân dé này như sau: “Quan điểm thứ nhất cho rằng: Cuộc sống của một con người được bắt đầu khi người mẹ đang đẻ, vào thời điểm một phần cơ thé của thai nhi được nhìn thấy từ bên ngoài cửa mình của người mẹ. Theo quan điểm này thì thời điểm bắt đầu sự sống của con người là thời điểm bắt đầu quá trình sinh đứa trẻ. Quan điểm thứ hai cho rằng: chỉ được coi là con người khi thai nhi đã hoàn toàn được sinh ra khỏi cơ thé người mẹ và tồn tại độc lập bên ngoài thé giới khách quan. Theo quan điểm nay thì thoi điểm bat đầu sự sống của con người lại là thời điểm kết thúc quá trình sinh.
Trong hai quan điểm trên người viết đồng tình với quan điểm thứ nhất, bởi vì kế từ thời điểm bắt đầu sinh ra, đứa trẻ đã tách khỏi bao thai của cơ thé me. Lúc này, đứa trẻ chỉ còn dính với co thé người me qua nhau thai. Tat cả mach máu, dây chang, đường dẫn khí và dinh dưỡng từ mẹ vào con đều đã bị “cắt đứt”. Do đó có thể coi thời điểm này là thời điểm đứa trẻ đã “tách khỏi cơ thé người mẹ”, chuẩn bị “chui” ra ngoài dé trở thành một thực thé tự nhiên độc lập.
Nhu vậy có thé cho răng thời điểm bat đầu sự sống của con người là từ thời điểm người mẹ bắt đầu sinh đứa trẻ. Quan điểm thứ hai cho răng chỉ được coi là con người khi thai nhi đã hoàn toàn được sinh ra khỏi cơ thê người mẹ, khi đó quyền sống của con người mới được bảo vệ thì sẽ là quá muộn. Thực tế có trường hợp đứa trẻ đang được sinh ra thì đã bị người khác cô ý tước đoạt tính mạng. Vu án sau đây là một ví dụ: y tá Nguyễn Thị H phải đỡ đẻ cho một sản phụ khó sinh, H nhận ra sản phụ này chính là người đã “cướp” chồng minh.
Dé tra thù, H đã dùng dung cụ y tế cố kẹp mạnh vào đầu đứa trẻ làm đứa trẻ chết.Nếu theo quan điểm thứ nhất “ cuộc sống của con người được bat đầu khi người me đang đẻ, vào thời điểm một phan cơ thé của thai nhi được nhìn thay từ bên ngoài cửa minh của người me thi H đã phạm tội giết người, nhưng nếu theo quan điểm thứ hai cho rằng: chỉ được coi là con người khi thai nhi đã hoàn toàn được sinh ra khỏi cơ thé me và tôn tại đôc lập trong thế giới khách quan” thì H lại không phạm tội giết người” [3, 16]. Xét về tính chất nguy hiểm của hành vi thì việc cho răng hành vi của H không phạm tội là không thỏa đáng vì rõ ràng H đã cố ý tước đoạt quyền sống của đứa trẻ. Con người đang sống là đối tượng tác động của tội giết người, quyền sống của con người là khách thê của tội giết người nói chung. Tuy nhiên hành vi xâm phạm quyền sống của con người mới được sinh ra trong vòng 7 ngày tuổi trở lại khi chủ thể của tội phạm là người mẹ và thỏa mãn một số dau hiệu do luật định lại cấu thành tội phạm khác — Tội giết con mới đẻ được quy định tại Điều 94 BLHS Việt Nam năm 1999, e Quan điểm về thời điểm kết thúc sự sống của con người.
Về thời điểm kết thúc sự sống của con người, đa số quan điểm cho rằng: đó là khi con người đã chết sinh vật, bởi vì đây là giai đoạn cudi cùng của sự chết.