Tổng quan luận án
Công trình "Nghiên cứu so sánh nguồn lực phát triển của Singapore và Hàn Quốc giai đoạn 1961 - 1979" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thu Hường thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội (năm 2016), thuộc chuyên ngành Đông Nam Á học (Mã số: 62 31 50 10), dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Thu Mỹ và PGS. Nguyễn Duy Dũng.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Từ xuất phát điểm khó khăn đầu thập niên 1960, sau gần hai thập kỷ, Singapore và Hàn Quốc đã vươn lên thành những nước công nghiệp hóa mới (NICs) ở Đông Á. Giai đoạn 1961 - 1979 chứng kiến sự chuyển biến rõ rệt: tại Singapore, dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng Lee Kuan Yew, GDP bình quân đầu người từ 449 USD năm 1961 tăng lên mức cao vào cuối thập niên 1970; tại Hàn Quốc, dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Park Chung-hee, GDP bình quân đầu người tăng từ 84 USD năm 1961 lên 1.713 USD năm 1979 (tăng hơn 20 lần).
Đối với Việt Nam, sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) và bước vào giai đoạn 2016 - 2020 theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII, nhu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đặt ra yêu cầu học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia đi trước có sự tương đồng về văn hóa, lịch sử và điểm xuất phát. Cả Singapore và Hàn Quốc đều có điểm đặc thù là được dẫn dắt bởi một đảng cầm quyền duy nhất định hình năng lực hoạch định và can thiệp vĩ mô. Tuy nhiên, giới học thuật trong và ngoài nước trước đó phần lớn nghiên cứu riêng rẽ từng quốc gia hoặc chỉ đối chiếu ở một vài khía cạnh kinh tế, giáo dục cụ thể, chưa có công trình nào nghiên cứu so sánh toàn diện và hệ thống về nguồn lực phát triển (trọng tâm là nguồn nhân lực và nguồn lực tài chính) giữa hai quốc gia này trong cùng khung thời gian 1961 - 1979. Luận án được thực hiện nhằm giải quyết trực tiếp khoảng trống học thuật trên.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác định rõ mục tiêu chung và các mục tiêu cụ thể như sau:
- Mục tiêu chung: Trên cơ sở nghiên cứu so sánh sự tương đồng và khác biệt trong những chính sách khai thác, phát huy và sử dụng các nguồn lực phát triển của Singapore và Hàn Quốc giai đoạn đầu công nghiệp hóa (1961 - 1979), luận án rút ra các bài học kinh nghiệm và đề xuất gợi ý đối với Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Mục tiêu cụ thể:
- Từ góc độ so sánh, làm rõ chính sách khai thác và sử dụng nguồn lực con người cùng nguồn lực tài chính mà chính phủ Singapore và Hàn Quốc đã thực hiện trong hai thập niên 1960 và 1970.
- So sánh vai trò và tác động của những chính sách đó đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của hai nước trong hai thập niên đầu công nghiệp hóa.
- Rút ra một số kinh nghiệm khả dụng cho Việt Nam trong hoạch định và triển khai chính sách phát triển nguồn nhân lực và tài lực.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Văn bản luận án đề ra 7 nhiệm vụ nghiên cứu:
- Phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hoạch định chiến lược phát triển của Singapore và Hàn Quốc giai đoạn 1961 - 1979.
- Làm rõ nhận thức của các nhà lãnh đạo Singapore và Hàn Quốc về tầm quan trọng của nguồn lực con người và nguồn lực tài chính.
- Từ góc độ so sánh, phân tích thực trạng nguồn lực con người và nguồn lực tài chính của hai nước khi bắt đầu công nghiệp hóa.
- Phân tích những điểm tương đồng và khác biệt trong chính sách, biện pháp khai thác, sử dụng hai nguồn lực trên giai đoạn 1961 - 1979.
- Làm rõ các đặc điểm chung và riêng trong chính sách phát triển nguồn nhân lực và tài lực của hai quốc gia.
- Đánh giá vai trò, tác động và hạn chế trong các chính sách nguồn lực đối với tiến trình phát triển của Singapore và Hàn Quốc giai đoạn 1961 - 1979.
- Rút ra bài học kinh nghiệm về phát triển, sử dụng nguồn nhân lực và tài lực mà Việt Nam có thể tham khảo.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nguồn lực phát triển, đặc biệt là nguồn lực con người và nguồn lực tài chính; các giải pháp khai thác, quản lý và sử dụng các nguồn lực đó của Singapore và Hàn Quốc dưới góc độ so sánh.
- Phạm vi không gian: Hai quốc gia Singapore và Hàn Quốc, đặt trong bối cảnh khu vực Đông Á và quốc tế.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 1961 - 1979. Năm 1961 đánh dấu thời điểm Singapore bắt đầu Kế hoạch phát triển quốc dân 4 năm (1961 - 1964) và là năm tướng Park Chung-hee lên nắm quyền tại Hàn Quốc sau cuộc đảo chính quân sự ngày 16/5/1961. Năm 1979 là mốc cả hai quốc gia hoàn thành chặng đường đầu công nghiệp hóa và chính thức đạt quy chế các nền kinh tế công nghiệp hóa mới (NICs).
- Phạm vi nội dung: Trọng tâm đi sâu vào hai nguồn lực then chốt: nguồn lực con người (thực trạng, chính sách giáo dục, đào tạo nghề, chính sách việc làm, sử dụng nhân tài, chất lượng sống) và nguồn lực tài chính (vốn tích lũy nội sinh trong nước và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI, viện trợ nước ngoài, quản lý phân bổ vốn).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước đây được điểm lại
Văn bản luận án hệ thống hóa tài liệu nghiên cứu liên quan theo các nhóm:
-
Các nghiên cứu so sánh quốc tế và khu vực:
- Tuvia Blumenthal và Chung H. với nghiên cứu so sánh chiến lược phát triển kinh tế của Hàn Quốc và Nhật Bản (Development strategies of Japan and the republic of Korea: A comparative study), chỉ ra nét tương đồng về hệ thống giáo dục, vai trò chính phủ nhưng khác biệt về mức độ và điều kiện xuất phát điểm.
- Michael E. Porter với tác phẩm The Competitive Advantage of Nations (1990), phân tích lợi thế cạnh tranh quốc gia và bày tỏ quan điểm về giới hạn của các yếu tố đầu vào truyền thống đối với Hàn Quốc.
- Ngân hàng Thế giới (World Bank) với báo cáo The East Asian Miracle: Economic Growth and Public Policy (1993/2003) và báo cáo Education Quality and Economic Growth (2007), nhấn mạnh sự tích lũy vốn vật chất, vốn con người và năng lực điều phối nguồn lực của nhà nước Đông Á.
- Lawrence J. Lau và Jungsoo Park (2003) trong The Sources of East Asian Economic Growth Revisited, khảo sát nguồn gốc tăng trưởng của các nước Đông Á thập niên 1960 - 1970 và vai trò của vốn phi vật chất (R&D).
- Richard H.K. Vietor (2007) với How countries compete: strategy, structure, and government in the global economy, đánh giá 4 nhân tố thành công gồm chiến lược quốc gia, cơ cấu kinh tế, phát triển nguồn lực và sử dụng hiệu quả nguồn lực tại 10 nước, trong đó có Singapore.
- Linda Lim (2008) với Singapore's Economic Growth Model: Too Much or Little?, phân tích mô hình tăng trưởng mở và bền vững của Singapore trong so sánh với Đài Loan, Hàn Quốc.
- Ryu Jee-seong (2011) so sánh năng lực cạnh tranh nhân tài khoa học công nghệ giữa Hàn Quốc và Trung Quốc.
- Ng Beoy Kui (1998) nghiên cứu so sánh trung tâm tài chính Hồng Kông và Singapore qua khung SWOT.
- Tan Teck Meng, Low Aik Meng và Chew Soon Beng (1995) trong chuyên khảo Development Experience of Singapore, phân tích kinh nghiệm quản lý, kế toán, thuế và đào tạo nhân lực của Singapore.
- Yun Sang-u (2002) nghiên cứu so sánh Hàn Quốc và Đài Loan về chính sách công nghiệp, tài chính và lao động.
-
Nghiên cứu đơn lẻ về nguồn lực của Singapore:
- Linda Lim và Pang Eng Fong (1982) với Trade, Employment and Industrialisation in Singapore, xem xét vai trò của chính phủ và yếu tố văn hóa.
- W.G. Huff (1994) với The economic growth of Singapore: Trade and development in the twentieth century, phân tích vị trí địa kinh tế, thương mại và các lực lượng thị trường.
- Geoffrey Murray và Andrey Perera (1996) với The Global City - State, nhấn mạnh yếu tố ngoại lực và vị thế mắt xích toàn cầu.
- Henri Ghesquiere với tác phẩm Singapore's Success, phân tích cơ chế quản lý điều hành kinh tế.
- Ahad M. Osman-Gani, K. Ho và Yun Ge (2011), Peng Boo Tan (1997) nghiên cứu về chính sách phát triển nguồn nhân lực và quản lý vốn con người.
- Hồi ký hai tập của Lee Kuan Yew (The Singapore Story, 1998 và From Third World to First, 2000), cung cấp dữ liệu thực tế về nhận thức, quyết sách phát triển nguồn dân cư và giá trị châu Á.
-
Nghiên cứu đơn lẻ về nguồn lực của Hàn Quốc:
- Charles Harvie và Lee Hyun-hoon (2003) phân tích các yếu tố thúc đẩy kinh tế Hàn Quốc giai đoạn 1962 - 1989.
- Charles K. Armstrong, Gilbert Rozman, Stephen Kotkin, Samuel S. Kim nghiên cứu vị trí địa chính trị của Hàn Quốc ở Đông Bắc Á.
- Bang Nam Jeon (1999) đánh giá vai trò của dòng vốn nước ngoài đối với kinh tế Hàn Quốc.
- Kim Yun-tae (2002) thuộc Viện Phát triển Năng lực Nghề nghiệp Hàn Quốc, phân tích chính sách phát triển nhân lực giai đoạn 1962 - 2002.
- Kim Hyung-a (2004) với Korea's Development under Park Chung Hee, làm rõ bối cảnh và quá trình công nghiệp hóa thần tốc giai đoạn 1961 - 1979.
- Lee Young-hoon (2011) phân tích tích lũy vốn xã hội, vốn nhân lực và ý chí phát triển của giới lãnh đạo quân sự.
- Kim Byung-Kook và Ezra F. Vogel (2011) với The Park Chung Hee Era, làm rõ vai trò viện trợ và quan hệ ngoại giao trong phát triển.
- Các tác phẩm của Park Chung-hee: The Country, the Revolution and I (1970), To Build a Nation (1971), Korea Reborn: A Model for Development (1979).
-
Các công trình nghiên cứu tại Việt Nam:
- Dương Phú Hiệp (1996), Phạm Đức Thành (2001) nghiên cứu về con đường phát triển của các NIEs châu Á và chủ nghĩa tư bản Singapore.
- Trần Khánh (1993, 2008), Lê Thanh Hương (2004), Dương Văn Quảng (2005), Nguyễn Thu Mỹ cùng cộng sự (2005) nghiên cứu về sức mạnh quốc gia, vị trí địa lý, ngoại giao và chính sách coi trọng con người của Singapore.
- Vũ Đăng Hinh (1996), Hoa Hữu Lân (2005), Hoàng Văn Hiển (luận án và sách chuyên khảo xuất bản năm 2005) nghiên cứu lịch sử phát triển kinh tế Hàn Quốc giai đoạn 1961 - 1993.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tác giả nêu rõ 4 điểm hạn chế của các công trình trước đó:
- Chưa có công trình nào trực tiếp đặt Singapore và Hàn Quốc vào mối tương quan so sánh đối chiếu đa diện về nguồn lực phát triển.
- Một số công trình của học giả bản xứ chưa bảo đảm tính khách quan hoàn toàn khi luận giải chính sách nội bộ.
- Các công trình trước chưa phân tích đầy đủ và đồng bộ cả tiền đề chủ quan lẫn khách quan trong hoạch định chiến lược đầu thập niên 1960.
- Đa số tài liệu tập trung đánh giá giai đoạn sau năm 1980 hoặc sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997, chưa bao quát trọn vẹn tiến trình bản lề 1961 - 1979. Luận án định vị là công trình đầu tiên tại Việt Nam giải quyết hệ thống các nội dung này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khái niệm sử dụng
- Khái niệm tăng trưởng kinh tế: Luận án tiếp cận định nghĩa của Simon Kuznets (1963): tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng dài hạn về năng lực cung cấp cho dân cư các sản phẩm kinh tế ngày càng đa dạng, dựa trên nền tảng kỹ thuật tiên tiến cùng sự điều chỉnh tương ứng về thể chế và ý thức hệ. Đồng thời, đối chiếu với định nghĩa trong Từ điển Bách khoa Việt Nam về sự gia tăng sản lượng thực tế theo thời gian.
- Vai trò của nguồn lực: Luận án luận giải tăng trưởng kinh tế là kết quả của việc huy động và kết hợp hài hòa các nguồn lực. Nguồn lực con người đóng vai trò chủ đạo quyết định việc khai thác, sử dụng và tái tạo các nguồn lực khác; nguồn lực tài chính và khoa học công nghệ đóng vai trò thúc đẩy năng suất lao động và tạo giá trị thặng dư; tài nguyên thiên nhiên chỉ là tiềm năng nếu thiếu nhân lực và tài lực hấp thụ.
- Mô hình kinh tế lượng vận dụng: Luận án dựa trên khung lý thuyết hàm sản xuất tân cổ điển mở rộng biến (Neoclassical Production Function), trong đó sản lượng/tăng trưởng kinh tế ($Y$) phụ thuộc vào nguồn vốn tài chính ($K$), nguồn nhân lực ($L$) và biến kiểm soát là độ mở thương mại.
Phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin; các quan điểm phát triển kinh tế - xã hội của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam.
- Cách tiếp cận: Tiếp cận liên ngành thuộc lĩnh vực Đông Phương học, phối hợp phương pháp của Khu vực học, Sử học, Kinh tế học và Xã hội học.
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp so sánh: Phương pháp chủ đạo xuyên suốt toàn bộ các chương, đối chiếu từng chỉ số, chính sách và giải pháp giữa hai quốc gia.
- Phương pháp phân tích lịch sử: Đánh giá các dữ kiện lịch sử, sự chuyển dịch chính sách qua các mốc thời gian cụ thể từ 1961 đến 1979.
- Phương pháp thống kê và phân tích định lượng: Khảo sát chuỗi dữ liệu kinh tế, xã hội, giáo dục, tài chính từ các cơ quan thống kê chính thức.
- Phân tích SWOT: Xác định điểm mạnh (Strengths), điểm yếu (Weaknesses), cơ hội (Opportunities), thách thức (Threats) trong việc huy động và phân bổ nguồn lực.
- Phương pháp chuyên gia: Trao đổi khoa học trực tiếp và qua thư tín với các chuyên gia trong và ngoài nước (GS. Park Tae-gyun, GS. Jung Byung-joon, GS. Andrew Kim Eungi, PGS. Vũ Minh Khương, GS. Hoa Hữu Lân, PGS. Trần Khánh...).
Nguồn tư liệu sử dụng
- Tài liệu gốc:
- Văn kiện phát triển chính thức: Development Plan 1961 - 1964 của Singapore; các Kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế lần thứ nhất đến thứ tư của chính phủ Hàn Quốc.
- Di ngôn, hồi ký và tác phẩm của cố Thủ tướng Lee Kuan Yew và cố Tổng thống Park Chung-hee.
- Niên giám thống kê chính thức của Phòng Thống kê Singapore (Department of Statistics Singapore) và Cục Thống kê Hàn Quốc (KOSIS).
- Tài liệu tham khảo: Các chuyên khảo, luận án, bài báo khoa học công bố bằng tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Hàn, tiếng Nga và tiếng Trung thu thập tại Thư viện Đại học Quốc gia Singapore (NUS), Thư viện Quốc hội Hàn Quốc, Thư viện Đại học Sogang, Thư viện Quốc gia Việt Nam, Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa và phân loại các công trình khoa học trong và ngoài nước thành hai mạch nội dung: các nghiên cứu so sánh về phát triển và các nghiên cứu chuyên sâu về nguồn lực của từng quốc gia (Singapore và Hàn Quốc). Tác giả chỉ ra rằng các công trình đi trước chủ yếu tiếp cận thuần túy dưới góc độ kinh tế học hoặc lịch sử riêng lẻ, dữ liệu thường tập trung vào giai đoạn sau năm 1980. Từ việc nhận diện khoảng trống chưa có công trình nào đối chiếu trực diện hệ thống nguồn lực giữa hai nước giai đoạn 1961 - 1979, chương này định hình mục tiêu, đối tượng và 7 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể của đề tài.
Chương 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn hoạch định phát triển của Singapore và Hàn Quốc đầu thập niên 1960
Chương 2 làm rõ các khái niệm công cụ, khung lý thuyết tăng trưởng và phân tích chi tiết bối cảnh lịch sử, điều kiện tiền đề của hai nước đầu thập niên 1960.
Bảng tổng hợp: Điều kiện xuất phát điểm của Singapore và Hàn Quốc đầu thập niên 1960
| Tiêu chí |
Singapore (khoảng 1960 - 1961) |
Hàn Quốc (khoảng 1960 - 1961) |
| Bối cảnh chính trị |
Tách khỏi thuộc địa Anh, xung đột sắc tộc, quân đội Anh chuẩn bị rút quân, đối mặt thách thức an ninh tự chủ. |
Bị chia cắt sau chiến tranh Triều Tiên (1950 - 1953), đối đầu quân sự thường trực, đảo chính quân sự ngày 16/5/1961 của Park Chung-hee. |
| GDP bình quân đầu người |
449 USD (năm 1961). |
84 USD (năm 1961). |
| Tỷ lệ thất nghiệp |
13,5% (năm 1960). |
24,0% (năm 1960). |
| Đặc điểm địa lý & tài nguyên |
Diện tích nhỏ; đất canh tác 1,9%, rừng 4,5%; không có khoáng sản đáng kể; thiếu nước ngọt tự nhiên (sông Sungei Selebar dài 15 km, sông Singapore dài 3,2 km); phụ thuộc nhập khẩu lương thực. |
Diện tích gần 100.000 km²; đồi núi chiếm 67,2%, sông hồ 10,1%, đất canh tác 22,7%; mùa đông lạnh khô hạn chế canh tác vụ mùa; 80% hộ nông thôn ở nhà lợp mái rạ. |
| Tài nguyên khoáng sản |
Gần như không có, ngoại trừ lượng nhỏ than chì và đất sét không đáng kể. |
Có khoảng 300 loại khoáng sản nhưng chỉ 140 loại hữu ích, khai thác không quá 30 loại; 90% quặng sắt và than antraxit nằm ở Bắc Triều Tiên; nguyên liệu gỗ, dầu mỏ và hóa chất phụ thuộc nhập khẩu 90 - 100%. |
| Lợi thế vị trí |
Vị trí địa kinh tế chiến lược ở ngã tư châu Á, kiểm soát eo biển Malacca, hải cảng nước sâu tĩnh lặng bốn mùa. |
Vị trí tiền đồn địa chính trị đối đầu Đông - Tây trong Chiến tranh Lạnh; nhận bảo hộ an ninh và viện trợ kinh tế lớn từ Mỹ. |
| Nguồn viện trợ bên ngoài |
Hạn chế từ Anh sau khi giành quyền tự trị. |
Viện trợ Mỹ giai đoạn 1953 - 1962 chiếm khoảng 69% tổng giá trị hàng hóa nhập khẩu của Hàn Quốc. |
Chương này cũng phân tích các tiền đề quốc tế: sự phục hồi thần kỳ của kinh tế Nhật Bản (tăng trưởng bình quân 10%/năm giai đoạn 1952 - 1973), sự mở rộng phân công lao động quốc tế của các công ty đa quốc gia (MNCs/TNCs), và tác động từ chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam đối với nhu cầu dịch vụ, cung ứng hàng hóa trong khu vực.
Chương 3. Nguồn lực con người trong quá trình phát triển của Singapore và Hàn Quốc giai đoạn 1961-1979 từ góc độ so sánh
Chương 3 khảo sát thực trạng, định hướng chính sách và phương thức quản lý nguồn nhân lực của hai nước:
- Thực trạng ban đầu: Singapore đối mặt với tình trạng lao động thiếu kỹ năng, nhập cư ồ ạt, đa sắc tộc phức tạp và thất nghiệp cao; Hàn Quốc có lực lượng lao động nông nghiệp đông đảo, nghèo khổ nhưng sở hữu nền tảng hiếu học truyền thống và kỷ luật cao.
- Định hướng và chính sách thực hiện: Cả hai chính phủ đều dành tỷ lệ ngân sách lớn cho giáo dục. Singapore tập trung phổ cập giáo dục tiểu học và trung học, phát triển hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành nhằm đáp ứng nhu cầu các ngành công nghiệp chế tạo hướng ngoại. Hàn Quốc triển khai các kế hoạch 5 năm phát triển kỹ thuật, mở rộng quy mô học sinh các cấp (1952 - 1975) và đẩy mạnh các cơ sở đào tạo nghề (thống kê giai đoạn 1962 - 1966 và 1967 - 1971), thành lập Viện Phát triển Giáo dục Hàn Quốc (KEDI).
- Chính sách việc làm và quản lý lao động: Singapore thành lập Hội đồng Lương bổng Quốc gia (NWC), kiểm soát kỷ luật công đoàn để duy trì môi trường sản xuất ổn định; Hàn Quốc phát động Phong trào Làng mới (Saemaul Undong) và các phong trào lao động yêu nước nhằm thúc đẩy năng suất và huy động lực lượng lao động nông thôn vào các ngành công nghiệp.
- Thu hút và trọng dụng nhân tài: Singapore triển khai Ủy ban Dịch vụ Tư vấn Chuyên môn và Bố trí Việc làm (PIPS), Ủy ban Chiêu mộ Nhân tài Ngoại quốc (CATS) nhằm thu hút chuyên gia quốc tế; thành lập Cơ quan Điều tra Tham nhũng (CPIB) để xây dựng bộ máy hành chính liêm chính. Hàn Quốc đối mặt với tình trạng chảy máu chất xám đã thành lập Viện Khoa học Công nghệ Hàn Quốc (KIST) năm 1966 với các chế độ đãi ngộ đặc biệt để hồi hương các nhà khoa học hàng đầu.
- Nâng cao chất lượng cuộc sống: Singapore giải quyết triệt để vấn đề nhà ở thông qua Ủy ban Phát triển Nhà ở (HDB) và Quỹ Dự phòng Trung ương (CPF); kiểm soát mức sinh (giai đoạn 1957 - 1979). Hàn Quốc từng bước cải thiện các chỉ số xã hội, y tế và kiểm soát gia tăng dân số theo chuẩn mực chung.
Chương 4. Nguồn vốn tài chính của Singapore và Hàn Quốc giai đoạn 1961-1979: Từ góc độ so sánh
Chương 4 phân tích cơ chế tạo vốn, huy động và phân bổ nguồn vốn đầu tư:
- Huy động nguồn vốn trong nước: Singapore tận dụng cơ chế tiết kiệm bắt buộc thông qua Quỹ Dự phòng Trung ương (CPF), cải cách cơ cấu thuế và mở rộng các đơn vị ngân hàng quốc nội (DBUs) kết hợp thị trường tiền tệ châu Á (ACUs). Hàn Quốc tiến hành quốc hữu hóa và kiểm soát chặt chẽ hệ thống ngân hàng thương mại, thực hiện cải cách tiền tệ và huy động tối đa nguồn tiền gửi nội địa để tài trợ vốn vay ưu đãi.
- Huy động nguồn vốn bên ngoài:
- Singapore: Lựa chọn chiến lược dựa chủ yếu vào vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Thông qua Ủy ban Phát triển Kinh tế (EDB) và việc xây dựng hạ tầng đồng bộ tại Khu công nghiệp Jurong (JTC), Singapore đưa ra các ưu đãi thuế quan đặc biệt để thu hút các tập đoàn đa quốc gia phương Tây, đưa tỷ trọng đóng góp của FDI vào tích lũy vốn giai đoạn 1967 - 1978 tăng vọt.
- Hàn Quốc: Hạn chế FDI trong giai đoạn đầu, tập trung huy động vốn vay thương mại nước ngoài, vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và viện trợ của Mỹ. Ngoài ra, Hàn Quốc tạo dòng thu ngoại tệ lớn thông qua việc xuất khẩu lao động sang Tây Đức (thợ mỏ, y tá) và cung cấp dịch vụ, nhân lực trong giai đoạn chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam.
- Quản lý và phân bổ vốn: Singapore hướng dòng vốn vào các ngành công nghiệp định hướng xuất khẩu, dịch vụ hàng hải, lọc dầu và tài chính ngân hàng. Hàn Quốc thực hiện phân bổ vốn tín dụng tập trung do nhà nước chỉ định vào các tập đoàn kinh tế lớn (Chaebol), xây dựng các tuyến hạ tầng xương sống (đường cao tốc Seoul - Busan khánh thành 1968 - 1969) và dồn lực phát triển các ngành công nghiệp nặng, hóa chất (HCI) từ đầu thập niên 1970.
Chương 5. Nhận xét chung về nguồn lực phát triển của Singapore - Hàn Quốc và bài học tham khảo cho Việt Nam
Chương 5 tổng kết toàn bộ bức tranh phát triển sau gần hai thập kỷ:
- Đóng góp của các nguồn lực: Nguồn nhân lực có kỷ luật, tay nghề và nguồn vốn đầu tư (nội sinh và ngoại sinh) được phân bổ hợp lý đóng vai trò quyết định mức tăng trưởng GDP thực tế của cả hai quốc gia trong các giai đoạn kế hoạch. Tỷ lệ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm đều đạt mức hai con số; chuyển dịch cơ cấu lao động diễn ra mạnh mẽ từ nông nghiệp/thương mại sơ khai sang công nghiệp chế tạo và dịch vụ hiện đại.
- Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam:
- Về nguồn lực con người: Đặt giáo dục - đào tạo gắn kết trực tiếp với nhu cầu thị trường lao động công nghiệp; xây dựng chính sách đãi ngộ xứng đáng và môi trường làm việc minh bạch để thu hút, trọng dụng nhân tài; phát triển đồng bộ chính sách nhà ở và an sinh xã hội để tái tạo sức lao động.
- Về nguồn vốn tài chính: Nâng cao năng lực tiết kiệm quốc gia thông qua các quỹ dự phòng và cải cách hệ thống tài chính; chọn lọc và tối ưu hóa nguồn vốn FDI gắn với chuyển giao công nghệ; phân bổ vốn đầu tư công có trọng tâm, trọng điểm vào cơ sở hạ tầng thiết yếu, tránh dàn trải gây lãng phí.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt khoa học
Theo công bố của tác giả trong văn bản, luận án đạt được 5 đóng góp khoa học chính:
- Làm rõ tương đồng và khác biệt về xuất phát điểm: Luận án hệ thống hóa các điều kiện ban đầu của Singapore và Hàn Quốc trước khi công nghiệp hóa, chứng minh rằng dù cùng thiếu thốn tài nguyên thiên nhiên nhưng mỗi nước có những đặc thù riêng về địa kinh tế và địa chính trị.
- So sánh hệ thống về chính sách nhân lực và tài lực: Phân tích chi tiết và đối chiếu có hệ thống các chính sách đào tạo, sử dụng con người cũng như phương thức huy động, quản lý và sử dụng nguồn vốn đầu tư nội sinh, ngoại sinh của hai nước trong toàn bộ giai đoạn 1961 - 1979.
- Cung cấp luận cứ thực tiễn cho Việt Nam: Đúc kết những thành công và hạn chế từ mô hình của hai nước, đề xuất hệ thống bài học kinh nghiệm khả dụng cho quá trình hoạch định chính sách phát triển nguồn nhân lực và tài lực tại Việt Nam.
- Làm sáng tỏ mô hình tăng trưởng Đông Á: Góp phần làm rõ vai trò điều tiết, quản trị của nhà nước trong phát triển kinh tế - xã hội, giải thích căn nguyên hình thành hai phiên bản khác nhau của mô hình Đông Á: phiên bản dựa vào FDI và mở cửa tự do của Singapore đối lập với phiên bản dựa vào vốn vay nước ngoài và các tập đoàn gia đình (Chaebol) dưới sự chỉ đạo tập trung của Hàn Quốc.
- Bổ sung cơ sở thực tế cho lý thuyết tăng trưởng: Kiểm chứng lý thuyết tăng trưởng ngoại sinh và hàm sản xuất tân cổ điển mở rộng thông qua dữ liệu thực nghiệm lịch sử của hai quốc gia giai đoạn 1961 - 1979, khẳng định vai trò quyết định của vốn con người ($L$), vốn tài chính ($K$) và độ mở thương mại.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
Từ kết quả nghiên cứu, luận án nêu lên các giải pháp tham khảo cho Việt Nam:
- Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước trong điều phối các nguồn lực vĩ mô.
- Tái cơ cấu hệ thống đào tạo kỹ thuật, dạy nghề theo chuẩn quốc tế nhằm giải quyết bài toán thừa thầy thiếu thợ.
- Thiết lập cơ chế huy động vốn nhàn rỗi trong dân cư qua các quỹ tương tự CPF của Singapore.
- Chuyển hướng chính sách thu hút FDI từ số lượng sang chất lượng, gắn ưu đãi với cam kết chuyển giao công nghệ và liên kết doanh nghiệp nội địa.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu trong khung thời gian 1961 - 1979, do đó chưa bao quát được các cuộc chuyển đổi mô hình kinh tế sâu rộng sang công nghệ cao và tự động hóa của Singapore và Hàn Quốc ở các thập niên 1980, 1990. Đồng thời, nguồn dữ liệu chủ yếu tập trung vào nguồn lực con người và nguồn vốn tài chính, chưa đi sâu vào các yếu tố nguồn lực văn hóa phi vật thể hay thể chế chính trị chi tiết.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng khung phân tích sang giai đoạn sau năm 1980 đến thời kỳ sau khủng hoảng tài chính châu Á (1997 - 1998) nhằm đánh giá khả năng duy trì sức chống chịu của các nguồn lực.
- Nghiên cứu so sánh sâu hơn về vai trò của nguồn vốn xã hội (Social Capital), nguồn vốn đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) và thể chế quản trị công giữa hai quốc gia.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho:
- Các nhà hoạch định chính sách: Đặc biệt là các cơ quan quản lý về kế hoạch đầu tư, lao động, giáo dục và tài chính tại Việt Nam trong việc xây dựng các công cụ thu hút FDI và đào tạo nhân lực.
- Nghiên cứu sinh và học viên cao học: Chuyên ngành Đông Phương học, Đông Nam Á học, Quốc tế học, Lịch sử kinh tế và Kinh tế phát triển.
- Giảng viên đại học: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy các học phần về Kinh tế Đông Á, Lịch sử phát triển các nước Đông Á và Phương pháp nghiên cứu so sánh liên ngành.
- Phần đáng tham khảo nhất: Hệ thống bảng số liệu thống kê lịch sử về ngân sách giáo dục, cơ cấu thuế, dòng vốn FDI/ODA giai đoạn 1961 - 1979 và các phân tích so sánh chính sách việc làm, sử dụng nhân tài ở Chương 3 và Chương 4.
Câu hỏi thường gặp
1. Xuất phát điểm về kinh tế và lao động của Singapore và Hàn Quốc năm 1960 - 1961 có các chỉ số cụ thể nào?
Năm 1961, GDP bình quân đầu người của Singapore đạt 449 USD, trong khi của Hàn Quốc chỉ đạt 84 USD. Về mặt lao động, năm 1960, tỷ lệ thất nghiệp của Singapore là 13,5% dân số cả nước, còn tỷ lệ thất nghiệp của Hàn Quốc lên tới 24,0%.
2. Điểm khác biệt căn bản trong chiến lược huy động vốn bên ngoài giữa Singapore và Hàn Quốc giai đoạn 1961 - 1979 là gì?
Singapore chủ trương mở cửa tối đa để thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ các tập đoàn đa quốc gia phương Tây thông qua các cơ chế ưu đãi thuế và hạ tầng Khu công nghiệp Jurong. Ngược lại, Hàn Quốc trong giai đoạn này hạn chế FDI, chủ yếu dựa vào nguồn viện trợ từ Mỹ, vốn vay thương mại nước ngoài (ODA, nợ nước ngoài) và nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu lao động sang Tây Đức, phục vụ chiến tranh tại Việt Nam.
3. Tình trạng thiếu tài nguyên thiên nhiên của hai nước có những biểu hiện khác nhau như thế nào?
Singapore gần như hoàn toàn không có tài nguyên khoáng sản (chỉ có ít than chì và đất sét), diện tích đất canh tác chỉ chiếm 1,9%, thiếu nước ngọt tự nhiên và phải nhập khẩu phần lớn lương thực. Hàn Quốc có diện tích lớn hơn với đồi núi chiếm 67,2% và đất canh tác chiếm 22,7%, có khoảng 300 loại khoáng sản nhưng chỉ khai thác được dưới 30 loại, và 90% quặng sắt cùng than antraxit phân bố ở phía Bắc, dẫn đến việc phải nhập khẩu 90 - 100% dầu mỏ, nguyên liệu gỗ và hóa chất.
4. Hai quốc gia đã thành lập các cơ quan chuyên trách nào để phát triển khoa học công nghệ và nhân tài?
Tại Hàn Quốc, chính phủ thành lập Viện Khoa học Công nghệ Hàn Quốc (KIST) vào năm 1966 để thu hút các nhà khoa học hải ngoại về nước làm việc. Tại Singapore, chính phủ thiết lập Ủy ban Dịch vụ Tư vấn Chuyên môn và Bố trí Việc làm (PIPS) và Ủy ban Chiêu mộ Nhân tài Ngoại quốc (CATS) nhằm tuyển mộ chuyên gia quốc tế, cùng với Cơ quan Điều tra Tham nhũng (CPIB) nhằm duy trì bộ máy công vụ minh bạch.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thu Hường là công trình khoa học chuyên ngành Đông Phương học khảo sát toàn diện và có hệ thống quá trình huy động, sử dụng nguồn lực phát triển của Singapore và Hàn Quốc giai đoạn 1961 - 1979 dưới góc độ so sánh liên ngành. Thông qua việc phân tích đối chiếu hai yếu tố cốt lõi là nguồn nhân lực và nguồn lực tài chính, tác giả đã làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt sâu sắc giữa hai phiên bản tiêu biểu của mô hình phát triển Đông Á. Các kết quả nghiên cứu không chỉ cung cấp cơ sở dữ liệu lịch sử xác thực về thời kỳ cất cánh của hai nền kinh tế mà còn đúc kết các bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn đối với công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam.