Chương 1 TỎNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Với những thành tựu phát triển thần kỳ của các con rồng Châu Á, từ rất lâu, đề tài nghiên cứu về chiến lược phát triển của các quốc gia này đã thu hút sự quan tâm của các quốc gia và nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Họ xem xét chiến lược phát triển của các quốc gia này như là một nguyên nhân trọng yếu đối với quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Mục đích chính của chương nay là trên cơ sở (1) xác định chủ đề chủ yếu trong các tài liệu khoa học nghiên cứu so sánh về nguồn lực phát triển của Singapore và Hàn Quốc giai đoạn 1961-1979 mà tác giả sẽ đề cập tới (2) những vấn đề nghiên cứu chính của luận án này. Tình hình nghiên cứu đề tài 1.
Nghiên cứu so sánh nguồn lực phát triển của Singapore và Hàn Quốc Mặc dù đã có không ít đề tài so sánh về chính sách phát triển của các nước NICs nhưng thường các tác giả chỉ dan dụ về một số khía cạnh nhất định như phát triển kinh tế, giáo dục, nhân lực. Thực tế khảo sát cho thấy, chưa có công trình nao tập trung nghiên cứu nguồn lực phát triển dựa trên sự so sánh những điều kiện giữa hai quốc gia Singapore và Hàn Quốc. Hi vọng rằng, việc điểm lại một cách khái quát những công trình nghiên cứu hiện có đề cập tới chủ điểm phát triển của hai quốc gia sẽ giúp tác giả lý giải cơ sở lý thuyết sẽ được trình bày ở chương tiếp theo. Và để minh chứng cho tầm quan trọng của luận án này, chúng tôi cũng sẽ đề cập tới một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về chủ đề này.
Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Những đề tài tập trung nghiên cứu so sánh dường như chỉ có các đề tài thiên về chiến lược phát triển kinh tế, giáo dục và thường lấy Singapore hoặc Hàn Quốc làm đối tượng so sánh với một quốc gia khác hoặc chỉ là những luận văn ở trình độ thạc sỹ. Trong số đó, đáng chú ý là đề tài Nghiên cứu so sánh chiến lược phát triển kinh tế của Hàn Quốc và Nhật Bản (Development strategies of Japan and the republic of Korea: A comparative study) của hai nhà nghiên cứu Tuvia Blumenthal và Chung H. Các tác giả đã tìm hiểu về điểm tương đồng trong kinh nghiệm phát triển của Hàn Quốc và Nhật Bản như đường lối phát triển, hệ thống giáo dục, cơ cầu công nghiệp, vai trò của Chính phủ. và điểm khác biệt chính là về mức độ cũng như điều kiện khác nhau khi bắt đầu thời kỳ tăng trưởng cao.
Tuy nhiên với dung lượng 13 trang, nghiên cứu mới chỉ đề cập một cách khái quát, sơ lược. Năm 1990, "cha đẻ" chiến lược cạnh tranh Michael E.Porter dựa trên nghiên cứu thực địa tại nhiều quốc gia đã xuất bản cuốn sách The competitive Advantage of Nations (Lợi thé cạnh tranh quốc gia). Tác giả đã cố gắng lý giải nguồn gốc của sự thịnh vượng bền vững trong nền kinh tế toàn cầu. Theo ông, lợi thế so sánh "dựa vào nguồn lực đầu vào như lao động, tài nguyên thiên nhiên và vốn tài chính.
bản thân những yếu tố đầu vào đó ngày càng trở nên ít giá trị trong một nền kinh tế toàn cầu hóa" [Michael, 1990, tr. Bằng việc so sánh một số vấn đề của các quốc gia trong nhóm NICs, Michael E.Porter tỏ ra nghi ngờ về khả năng duy trì và mở rộng lợi thế cạnh tranh quốc gia của Hàn Quốc. Trong báo cáo The East Asian Miracle: Economic Growth and Public Policy (Sự than kỳ Đông A: tăng trưởng kinh tế và chính sách công cộng), năm 2003 Ngân hàng Thế giới đã khăng định: .Sự tăng trưởng đầy ấn tượng của Đông A nói chung va Hàn Quốc nói riêng phần nhiều do có sự tích lũy siêu việt nguồn vốn vật chất và con người. Nhưng những nền kinh tế này còn có một khả năng cao hơn các nền kinh tế khác là sự phân phối các nguồn lực vào các khu vực đầu tư có hiệu quả.
Họ đã làm được như vậy với sự kết hợp của chính sách bao gồm nên tảng định hướng thị trường và sự khéo léo của chính phủ. Đó là nhận định chủ yếu dựa trên kết quả nghiên cứu dit liệu của thập niên 1980. Thập niên 1960 và 1970 dường như chỉ được điểm qua trong báo cáo này. Cũng trong năm 2003, hai nhà nghiên cứu kinh tế Lawrence J.
Lau (Đại học Stanford) và Jungsoo Park (Dai học bang New York) trong báo cáo The Sources of East Asian Economic Growth Revisited (Khao sat lai nguồn lực của sự tăng trưởng kinh tế các nước Đông Á) đã nhận định rằng nguồn vốn nhân lực, vốn vật chất chính là nguồn tăng trưởng kinh tế của các nước Đông A những năm 60, 70. Tuy nhiên, các tác giả tập trung nghiên cứu tới vai trò của nguôn vôn phi vật chât từ giai 10 đoạn nửa cuối thập niên 1980. Các tác giả nhân mạnh răng, vốn phi vật chất (vốn đầu tư R&D) đóng góp mạnh mẽ cho sự tăng trưởng ở các quốc gia NIEs Đông A. Vietor - Trường kinh doanh Harvard đã xuất bản cuốn sách How countries compete: strategy, structure, and government in the global economy (Các quốc gia cạnh tranh như thé nao?” - Chiến lược, Cấu trúc va Chính phủ trong kinh tế toàn cầu).
Từ nghiên cứu thực tiễn 10 quốc gia (Singapore, Nhật Bản, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Mê-hi-cô, Nam Phi, Ấn Độ, Italia, Nga và Ả-rập Xê- út), tác giả cho rằng bốn nhân tố cho phát triển kinh tế thành công là: (1) chiến lược quốc gia, (2) cơ cấu kinh tế, (3) phát triển nguồn lực, và (4) sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Vietor nhấn mạnh rằng: Chiến lược, dù công khai hoặc không công khai, cũng đều chứa các yếu tô kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô. Cơ cau tổ chức là tập hợp các định chế (cả theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp) mà một chính sách quốc gia được tạo ra dé thực thi chiến lược của quốc gia đó. Cả chiến luợc và cơ cấu phải phát triển được các nguồn lực (nguồn lực tự nhiên, con người, công nghệ và vốn) và chọn phương thức dam bảo sử dụng hiệu quả các nguồn lực này.
Giáo sư đánh giá cao vai trò lãnh đạo và phân bố nguồn lực của chính phủ Singapore. Ông cũng khăng định rằng, chính phủ Singapore đã biến quốc gia nhỏ bé này sánh ngang bằng với các nước OECD. Ngân hàng thế giới nhiều năm nay cũng đã chủ trì nhiều công trình nghiên cứu dé cập tới sự phát trién than kỳ của các quốc gia trên thé giới, trong đó có Singapore và Hàn Quốc. Những công trình đó đều thường nhắn mạnh tới vai trò của giáo dục tới tăng trưởng kinh tế, ví dự như Education Quality and Economic Growth (Chất lượng giáo dục và tăng trưởng kinh tế) năm 2007.
Với bài nghiên cứu công bố năm 2008 Singapore /s Economic Growth Model: Too Much or Little? (Mô hình phát triển kinh tế của Singapore: quá nhiều hay quá ít), giáo sư Linda Lim (Đại học Michigan, Mỹ) đã phân tích mô hình phát triển kinh tế của Singapore trong vòng 40 năm từ 1965 tới 2005. Tác giả cũng đã cố gắng làm rõ một số đặc điểm của mô hình phát triển kinh tế Singapore trong sự so sánh một số điểm với một số quốc gia trong khu vực Châu Á như Đài Loan, Hàn Quốc. Qua đó, tác giả nhắn mạnh tới tính mở của nền kinh tế Singapore, lợi thế cạnh tranh, quá trình hội nhập vào kinh tê thê giới va dé cao sự phát triên bên vững của quôc gia này. 11 Năm 2011, học giả Ryu Jee-seong (Viện Nghiên cứu kinh tế Samsung) đã báo cáo kết quả nghiên cứu “st ©IZJZ4Z#z#34 Hla O45} - nỊ#†7|#9IXSIE ã&1© #” (Nghiên cứu so sánh năng lực cạnh tranh nhân tài Hàn - Trung: Tập trung vao nhân tài tai khoa học công nghệ).
Tuy nhiên, đề tài chủ yếu phân tích đánh giá dựa trên tư liệu thu thập từ năm 2009 trở đi, chỉ điểm qua tình hình phát triển nhân lực của Hàn Quốc đầu thập niên 1960. Đối với khối tư liệu của các nhà nghiên cứu Singapore về trọng tâm nghiên cứu so sánh, có thé đề cập tới dé tài nghiên cứu HongKong and Singapore as International Financial Centré: A Comparative Functional Perspective (Hồng Kông và Singapore - trung tâm tài chính quốc tế: một quan điểm so sánh) của giáo sư Ng Beoy Kui - Trường Đại học công nghệ Nanyang, Singapore năm 1998. Tác giả đã phác họa một cách khái quát về quá trình hình thành và phát triển của trung tâm tài chính quốc tế ở Hồng Kông và Singapore. Thông qua việc phân tích 6 chức năng của một trung tâm tài chính quốc tế, giáo sư đã so sánh về các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức phát triển (mô hình SWOT) của hai quốc gia này như một đối trọng về dịch vụ tài chính.
Ngoài ra, chuyên khảo Kinh nghiệm phát triển của Singapore (Development Experience of Singapore) được các nhà nghiên cứu Tan Teck Meng, Low Aik Meng va Chew Soon Beng (Trường NTU Singapore) biên tập và xuất ban năm 1995 cũng là công trình có giá trị. Cuốn sách đề cập tổng quan về kinh nghiệm phát triển của Singapore, từ phương pháp quản lý, đào tạo hệ kế toán viên, khai thác tối đa nguồn lực kinh tế, nắm bắt phân tích và sự thay đổi nền kinh tế Singapre; cho đến vai trò của dao tạo đại học, sau dai học ở Sigapore hay các chính sách tỷ giá hối đoái, tiết kiệm, tiền lương, thuế singapore của Singapore. Một số chương của cuốn sách cũng được các tác giả đối chiếu so sánh liên hệ giữa Singapore với một số nước châu Á, Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc, Malaysia, Việt Nam. Tuy nhiên, các tác giả chủ yếu khai thác dữ liệu ở giai đoạn sau năm 1980.
Đối với khối tư liệu của các nhà nghiên cứu Hàn Quốc về trọng tâm nghiên cứu so sánh, quá trình tăng trưởng kinh tế của Hàn Quốc và Đài Loan được khái quát qua đề tài Khủng hoảng và tái cơ cấu của các quốc gia phát triển Đông Á: nghiên cứu so sánh Hàn Quốc và Đài Loan (3 ofAlo} ‡F£12L9| 91719} XI : SSD} CHEF | Weds?) của tác giả Yun Sang-u, năm 2002. Tác giả cho người đọc cái nhìn tổng quan trong sự so sánh từ chính sách phát triển công nghiệp, chính sách tài chính cho tới chính sách lao động của hai quốc gia. Tình hình nghiên cứu ở trong nước Nội dung chương 2 “Con đường phát triên của các NIEs Châu Á: những bài học kinh nghiệm” của cuốn Con đường phát triển của một số nước Châu A - Thái Bình Dương do PGS.