phần mở đầu, nội dung chính của luận văn, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung các chương cụ thể như sau: Chƣơng 1. Tổng quan nghiên cứu về chất lượng sản phẩm tài chính vi mô của NHCSXH với công tác giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới. Phương pháp nghiên cứu và thiết kế nghiên cứu Chƣơng 3. Thực trạng chất lượng sản phẩm tài chính vi mô của NHCSXH với giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Ba Vì.
Giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm tài chính vi mô tại NHCSXH với công tác giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Ba Vì. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CHẤT LƢỢNG SẢN PHẨM TÀI CHÍNH VI MÔ CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI VỚI GIẢM NGHÈO VÀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Những nghiên cứu liên quan đến sản phẩm tài chính vi mô Citi Network (2007), "Báo cáo đánh giá về ngành Tài chính vi mô Việt Nam"nhận thấy: Cùng với sự thành công về cải cách hành lang pháp lý tại Việt Nam, thị trường TCVM trở nên đông đúc nhưng lộn xộn, đang bị chi phối bởi cơ chế cho vay bao cấp.
Để nâng cao khả năng tiếp cận và phát triển lĩnh vực TCVM đòi hỏi nhà cung cấp dịch vụ đẩy mạnh việc điều chỉnh, cải tiến sản phẩm, hệ thống phân phối thích ứng, đảm bảo phù hợp với nhu cầu thị trường. Sự cạnh tranh hiện khá cao, ngày càng quyết liệt; sự liên thông, hợp nhất và sáp nhập sẽ là cơ sở để kỳ vọng tổ chức TCVM thành công trong lĩnh vực đầy triển vọng này. Nguyễn Kim Anh (2010) trong nghiên cứu “Phát triển Tài chính vi mô ở khu vực nông nghiệp, nông thôn Việt Nam” đã đánh giá: (i) Độ tiếp cận của tổ chức TCVM ngày một sâu, rộng hơn; (ii) Khả năng tồn tại và phát triển một cách bền vững của tổ chức TCVM ngày một tăng; (iii) Hoạt động của tổ chức TCVM ngày càng có hiệu quả hơn. James Seward (2012), Ngân hàng Thế giới (WB) trong nghiên cứu: "Những phát hiện mới về tình hình Tài chính vi mô ở Việt Nam", chỉ ra rằng: Tương tự như những người nghèo kháctại hầu hết các nước trên thế giới, người nghèo Việt Nam cũng gặp khó khăn trong tiếp cận nguồn tài chính chính thức.
Tuy nhiên, điểm khác biệt rõ nhất là nhà cung cấp ở Việt Nam đã hoạt động tốt hơn, với khoảng 70 - 80% người nghèo bước đầu tiếp cận dịch vụ TCVM, ít nhất là tín dụng từ tổ chức tài chính chính thức (như NHCSXH, NHNNo&PTNT, NHHTX) hoặc chương trình do Chính phủ chỉ định. Tuy nhiên vẫn còn nhiều bất cập liên quan đến hiệu quả của dịch vụ tài chính dành cho người nghèo tại Việt Nam, chưa kểnhu cầuvề những khoản vay phù hợp, 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com linh hoạt hơn; có cấu trúc khác nhau - dịch vụ tài chính ngày càng trở nên đa dạng, phức tạp. Nguyễn Kim Anh và các cộng sự (2017) trong nghiên cứu “Sản phẩm tài chính vi mô: Thực trạng và giải pháp” các tác giả đã tập trung nghiên cứu về (i) hệ thống hóa các vấn đề lý thuyết và kinh nghiệm thực tiễn trên thế giới về sản phẩm dịch vụ tài chính vi mô của TCTCVM; (ii) phân tích - đánh giá thực trạng các sản phẩm dịch vụ tài chính vi mô của các TCTCVM tạ Việt Nam; (iii) đề xuất một số khuyến nghị để nâng cao chất lượng, đa dạng hóa, phát triển các sản phẩm này, phục vụ tốt hơn nhu cầu khách hàng, tận dụng các ưu thế của khoa học công nghệ, hướng tới hòa nhập các TCTCVM vào chiến lược tài chính toàn diện chung của quốc gia. Tín dụng chính sách “15 năm một chặng đường” (2017) của Ngân hàng Chính sách xã hội, trong đó tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện các chương trình tín dụng chính sách của Ngân hàng Chính sách xã hội, kết quả nổi bật nhất là thực hiện được mục tiêu quốc gia về giảm nghèo góp phần tích cực đưa nước ta thoát khỏi đói nghèo, chú trọng giải pháp tín dụng chính sách tạo điều kiện và khuyến khích hộ nghèo, cận nghèo phấn đấu tự vươn lên thoát nghèo bền vững; trợ giúp người nghèo chủ yếu bằng cách cho vay vốn, hướng dẫn cách làm ăn, ổn định cuộc sống.
Những nghiên cứu về giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới Công tác giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới là mục tiêu, chiến lược quốc gia để thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp, thôn thôn trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nội dung giảm nghèo, xây dựng NTM là chủ đề rộng, liên quan đến nhiều thành phần, nhiều lĩnh vực, đã được nhiều chuyên gia, nhà khoa học, các học giả đề cập và nghiên cứu: Đỗ Quế Lượng, “Thực trạng và giải pháp tín dụng Ngân hàng hỗ trợ cho công cuộc xóa đói giảm nghèo” (2001), đề tài khoa học nghiên cứu về thực trạng công tác tín dụng của các Ngân hàng Thương mại nhằm phục vụ cho công cuộc XĐGN của Đảng và Chính phủ, qua đó tác giải đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả về chất lượng tín dụng ngân hàng đối 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com với công cuộc xóa đói giảm nghèo, thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững của Nhà nước. Nguyễn Thị Hoa “Hoàn thiện các chính sách xóa đói giảm nghèo chủ yếu của Việt Nam đến năm 2015” (2009), đề tài của tác giả nhằm đánh giá kết quả đạt được của chính sách xóa đói giảm nghèo của Việt Nam giai đoạn 2005-2009, nội dung đề tài đã chỉ ra những tác động tích cực và hạn chế của từng chính sách, đồng thời đề xuất các giải pháp để hoàn thiện chính sách phục vụ công cuộc xóa đói, giảm nghèo đến năm 2015 của Việt Nam. Trong bài viết tác giả đã phân tích về hoạt động tín dụng cho người nghèo nói chung nhưng chưa đề cập cụ thể tác động của chính sách giảm nghèo đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn và xây dựng NTM.
Đề tài “Giải pháp xóa đói giảm nghèo nhằm phát triển kinh tế - xã hội ở các tỉnh Tây Bắc Việt Nam" (2012) của tác giả Nguyễn Thị Nhung, nội dung đề tài tập trung phân tích thực tiễn về công tác xóa đói giảm nghèo trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, nghiên cứu thực trạng tại khu vực Tây Bắc; đánh giá khái quát những thành tựu, những tồn tại hạn chế trong quá trình triển khai thực hiện các chương trình mục tiêu giảm nghèo, phân tích các nguyên nhân chính tác động đến công tác XĐGN ở Việt Nam. Từ đó, đưa ra các giải pháp cụ thể cho công tác xóa đói giảm nghèo cho các tỉnh vùng núi phía Tây Bắc của Việt Nam. Đề tài “Cơ sở khoa học của việc giảm nghèo bền vững cho các khách hàng trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn” của tác giả Hà Quang Trung (2014) đã chỉ ra cần tiếp tục thực hiện tốt chính sách về tín dụng cho người nghèo bằng cách điều chỉnh, nới rộng các điều kiện cho vay như nâng mức vay cao hơn, thời hạn cho vay dài hơn để phù hợp với yêu cầu sản xuất của người dân. Tác giả mới chỉ đề cập đến việc mở rộng đầu tư tín vốn tín dụng chính sách để giải quyết vấn đề đóinghèo cho nông dân, chưa nghiên cứu đến việc phát triển, mở rộng tín dụng chính sách đối với xây dựng nông thôn mới.
Đề tài “Chính sách nông nghiệp ở nước ta hiện nay”, Trần Thị Minh Châu (2007) Nxb Chính trị quốc gia. Tác giả đã đề cập đến thực trạng chính sách nông nghiệp ở Việt Nam, những chính sách đất nông nghiêp từ thời kỳ 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 1981 đên nay. Trên cơ sở đó tác giả đã đưa ra những giải pháđể hoàn thiện chính sách nông nghiệp: Hoàn thiện khung khổ pháp lý đảm bảo tự chủ ruộng đất cho nông dân theo nguyên tắc thị trường và quyền đại diện quản lý đất đai của Nhà nước; Hoàn thiện chính sách khuyến khích nông dân sử dụng đất đai; Tích cực tuyên truyên vê đường lối, chính sách đất đai nông nghiệp của Đảng và Nhà nước ở nông thôn. Đặng Kim Sơn “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam hôm nay và mai sau”, (2008), Nxb Chính trị quốc gia.
Trong nội dung đề tài, tác giả đã phân tích các vấn đề chính về chuyển dịch cơ cấu, tổ chức lại quá trình sản xuất và dịch vụ trong lĩnh vực nông nghiệp, nông dân và nông thôn Việt qua 20 năm đổi mới; Đề xuất các giải pháp về việc làm, các vấn đề liên quan đến đất sản xuất, vấn đề về tiếp cận các nguồn vốn tín dụng đối với phát triển kinh tế nông thôn trong giai đoạn tiếp theo; Tác giải cũng đã đưa ra một số kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới về vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong quá trình công nghiệp hoá. Vai trò phát triển nông nghiệp là tiền đề khởi động công nghiệp hoá, vấn đề tập trung hoá đất đai, vấn đề lao động và di cư lao động ra đô thị, vai trò của công nghiệp nông thôn và dân cư nông thôn, công nghiệp hóa chưa thành công ở những nước đang phát triển. Trong bài viết “Chương trình xây dựng NTM ở Việt Nam: thực trạng và giải pháp”của tác giả Dương Thị Bích Diệp (2014), tác giả đã nêu thực trạng xây dựng nông thôn mới tại 11 xã điểm ở Việt Nam do Trung ương trực tiếp chỉ đạo, quá trình triển khai thực hiện đã đạt được những kết quả khả quan, diện mạo nông thôn có nhiều thay đổi, tỷ lệ hộ nghèo ở khu vực nông thôn giảm, đời sống vật chất tinh thần của người dân nông thôn được nâng cao. Bên cạnh những kết quả đạt được, tác giả cũng đã chỉ ra những khó khăn, hạn chế mà các địa phương gặp phải như văn bản của các Bộ, ban ngành ban hành chưa đồng bộ, còn chậm, nhiều nội dung tiêu chí đề ra còn xa thực tiến, khó thưc hiện, trình độ cán bộ tại các địa phương không đồng đều, nguồn vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới đòi hỏi lớn nhưng ngân sách và đóng góp của người dân có hạn, …, đồng thời đưa ra 08 nhóm giải pháp để thực hiện.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.