mở đầu của đạo luật 372 (Luật các tổ chức tài chính và ngân hàng năm 1989) của Malaysia quy định vẻ khái niệm kinh doanh ngân hàng; tiết 1 (những quy định vẻ khái niệm) trong phân thứ nhất (những quy định chung) của đạo luật vé ngành tín dụng Đức quy định vẻ các nghiệp vụ ngân hàng do tổ chức tín dụng thực hiện trên lãnh thổ nước Đức. - Ngoài ra, trong các đạo luật về ngân hàng của một số nước cũng đã tìm cách đưa ra định nghĩa chính thức về hoạt dong ngân hàng, ching hạn như Diéu 1 Luật ngân hàng Pháp số 84-46 ban hành nam 1984 quy định vẻ khái niệm hoạt động ngân hàng trên lãnh thổ nước Pháp: “Các hoạt động ngân hàng bao gôm nhận vốn của nhân dân, hoạt động tín dụng cũng như cấp và quản lý các ° Xem: Bộ luật dân sự và thương mại Thái Lan, Nxb Chí trị quốc nh gia, Hà Nội, 1995, 168-172. 15 GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI CUA NGAN HÀNG THƯƠNG MAI TRONG BIEU KIEN phương tiện thanh toán ", Không giống như pháp luật thương mại của nhiều nước trên thế giới, pháp luật thương mại hiện hành ở Việt Nam chưa có quy định nào trực tiếp khẳng định hoạt động ngân hàng là một loại hành vi thương mại. Điều này cho thấy nội hàm của khái niệm hành vi thương mại trong pháp luật Việt Nam được hiểu rất hẹp, không bao gồm các hoạt động thương mại đặc thù như hoạt động kinh doanh bảo hiểm, hoạt động kinh doanh ngân hàng, hoạt động kinh doanh chứng khoán.
Tuy nhiên, một cách gián tiếp, các nhà làm luật Việt Nam đã thừa nhận hoạt động kinh doanh ngân hàng như là một loại hình hoạt động kinh doanh đặc thù, chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự, thương mại nói chung và pháp luật ngân hàng nói riêng, bằng cách đưa ra khái niệm hoạt động ngân hàng tại khoản 7 Điều 20 của Luật các tổ chức tín dụng, theo đó “hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiên tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tién gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”. Có thể nhận thấy, mặc dù pháp luật thương mại và pháp luật ngân hàng của mỗi nước có những quy định tương đối khác nhau (bằng cách liệt kê hoặc đưa ra một định nghĩa tổng quát) vẻ các loại hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại nhưng tựu trung, các đạo luật này déu trực tiếp hoặc gián tiếp thừa nhận những vấn để cơ bản sau đây: Một là, về bản chất, các hoạt động ngân hàng, hoạt động kinh doanh ngân hàng hay hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng thương mại déu gắn với phạm trù hành vi thương mại hay giao dich '® Xem: PTS. Nguyễn Đức Thảo - dich và biên soạn, Ngắn hang trong nén kinh tế thi trường, Nxb Mũi Cà Mau, 1998, tr. 16 Những vấn để lý luận về giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại thương mại của ngân hàng thương mại.
Hai là, về nội dung, các loại hình hoạt động nghiệp vụ kinh doanh của ngân hàng thương mại tuy được liệt kê với số lượng khác nhau trong pháp luật ngân hàng của các nước nhưng khái quát có thể phân loại chúng thành bốn nhóm chủ yếu, bao gồm: a) các hoạt động nghiệp vụ về huy động vốn; b) các hoạt dong nghiệp vụ vẻ cấp tín dụng; c) các hoạt động nghiệp vụ về cung. ứng các dich vụ ngân hang và d) các hoạt động nghiệp vụ khác về tài chính, tiền tệ, đầu tư. Trong bốn nhóm nói trên thi ba nhóm a); b); e) được coi là những nghiệp vụ kinh doanh có tính chức năng của ngân hàng thương mại và thuộc nội hàm của khái niệm hoạt động ngân hàng. Còn nhóm d) không nằm trong phạm trù khái niệm hoạt động ngân hàng mà chỉ được xem là những hoạt động.
kinh doanh bổ trợ cho hoạt động ngân hang". Ba là, vẻ tính chất, các hoạt động kinh doanh ngân hàng, hoạt động ngân hàng hay nghiệp vụ ngân hàng bao giờ cũng được các. ngân hàng thương mại thực hiện một cách thường xuyên, liên tục và mang tính chuyên nghiệp. Bốn là, vẻ mục dich, các hoạt động kinh doanh do ngân hàng thương mại thực hiện đều theo đuổi một mục đích chung là tìm kiếm lợi nhuận tối đa trên cơ sở tiến hành các giao dịch pháp lý với khách hàng.
Những phân tích trên đây cho thấy các nhà làm luật của các nước có ý đồng nhất giữa khái niệm hoạt động ngân hàng với khái niệm hoạt động kinh doanh ngân hàng và khái niệm nghiệp vụ ngân hang, do đó cũng đồng nhất với khái niệm giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, giữa khái niệm giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại với các khái ` Xem: PTS. Nguyễn Đức Thả - dich o và biên soạn, 44g, tr 228 HU VIE N NG ĐetHGC LUẤT HÀ NỘI NG MUON _. GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI CUA NGAN HÀNG THUONG MẠI TRONG ĐIỀU KIEN niệm hoạt động ngân hàng, hoạt động kinh doanh ngân hàng hay.
hoạt động nghiệp vụ ngân hàng không phải hoàn toàn đồng nhất. Điều này thể hiện ở chỗ, nếu xét vé bản chat thì hoạt động ngân hàng, hoạt động kinh doanh ngân hàng hay hoạt động nghiệp vụ ngân hàng là nội dung kinh tế của các giao dịch thương mại của. ngân hàng thương mại. Trong khi đó, giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại có thể hiểu là hình thức pháp lý để thực.
hiện hoạt động ngân hàng, hoạt động kinh doanh ngân hàng hay hoạt động nghiệp vụ ngân hàng. Từ mối quan hệ này cho phép khẳng định rằng: không có hoạt động nghiệp vụ kinh doanh nào của ngân hàng thương mại mà không được thực hiện thông qua hình thức pháp lý là giao dịch thương mại và ngược lại, cũng không có giao dịch thương mại nào của ngân hàng thương mại mà không thể hiện, hàm chứa những nội dung kinh tế nhất định - các nghiệp vụ kinh doanh của ngân hàng thương mại. Trong thực tiễn pháp lý, ngân hàng thương mại có thể xác lập và thực hiện nhiều loại giao dịch khác nhau nhưng không phải tất cả các giao dịch đó đều được coi là giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại. Sẽ hợp lý khi cho rằng chỉ những giao.
dịch do ngân hàng thương mại xác lập và thực hiện đối với khách hàng trong khi tiến hành các hoạt động kinh doanh mới là giao. địch thương mại. Còn các giao dịch khác của ngân hàng thương mại, mặc dù cũng do ngân hàng thương mại xác lập và thực hiện nhưng không phải trong khi tiến hành các hoạt động kinh doanh và không nhằm mục đích rõ rằng là thu lợi nhuận thì không thể xem là giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại. Trong thực tiễn hoạt động của ngân hàng thương mại, các giao dịch loại này không nhiều và không phải là phổ biến.
Tóm lại, có thể định nghĩa vé giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại như sau: 18 Những vấn để lý luận về giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại Giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại là hành vi pháp lý do ngân hàng thương mại xác lập và thực hiện một cách tự nguyện, có chủ dich trong khi tiến hành công việc kinh doanh của mình, nhằm hướng tới mục tiêu thu lợi nhuận trên cơ sở xác lập các quyền và nghĩa vụ pháp lý cho chính mình thực hiện đối với chủ thể khác. Quan niệm vẻ giao dịch thương mại chủ yếu của ngân hàng thương mại Trong bối cảnh nền kinh tế hiện đại, các ngân hàng thương mại ngày nay không bó hẹp hoạt động của mình trong một vài nghiệp vụ mang tính truyền thống mà luôn tìm cách mở rộng và phát triển không ngừng các nghiệp vụ kinh doanh mới, nhằm mục dich nâng cao khả nang cạnh tranh của minh trên thị trường va đáp ứng kịp thời các nhu cầu ngày càng phong phú, đa dạng của thị trường. Điều này khiến cho số lượng các nghiệp vụ kinh doanh nói chung và giao dich thương mại nói riêng của ngân hàng thương mại có xu hướng ngày càng đa dạng, tinh vi và phức. Nhìn từ góc độ quản lý, việc điều chỉnh pháp luật đối với các loại hình hoạt động kinh doanh đa dạng và phức tạp của ngân hàng đòi hỏi phải bất đầu từ cơ sở lý luận là những nhận thức khách quan, đúng đắn vẻ mỗi loại hình giao dịch thương mại của.
ngân hàng thương mại, đặc biệt là việc nhận diện, phân biệt một cách rạch rồi, có cơ sở khoa học giữa giao dịch thương mại chủ yếu và giao dịch thương mại không chủ yếu của ngân hàng thương mại. Sự phân biệt này có ảnh hưởng đáng kể đến việc xây dựng cơ chế điều chỉnh pháp luật thích hợp đối với các hoạt động, kinh doanh của ngân hàng thương mại. Một cách khái quát, có thể phân loại các giao dịch thương mại của ngân hàng thương mại dựa vào những tiêu chí cơ bản sau đây: Thứ nhất, nếu dựa vào cấu trúc chủ thể tham gia giao dịch va 19 GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI CUA NGAN HANG THƯƠNG MẠI TRONG DIEU KIỆN cách thức thể hiện ý chí giữa các chủ thể đó thì có thể phân loại thành giao dịch thương mại da phương (giao dịch thể hiện sự thống ới nhiều bên đối tác, ví dụ: giao dịch cho vay hợp vốn, giao dịch đồng bảo lanh.); giao dich thương mại song phương (giao dịch thể hiện sự thống nhất ý chí giữa ngân hàng thương mại với một bên đối tác, ví dụ: giao dịch nhận tiền gửi, giao dịch chiết khấu giấy tờ có giá.) và giao dich thương mại don phương (giao dịch chi thể hiện ý chí đơn phương của ngân hàng thương mại, ví dụ: hành vi phát hành séc của ngân hàng thương mại cho người thụ hưởng séc. Thứ hai, nếu dựa vào hệ quả pháp lý của giao dịch, có thé phân loại thành giao dịch cam kết (ví dụ, việc ký kết hợp đồng tín dụng.) và giao dịch định đoạt (ví dụ, việc giải ngân của ngân hàng thương mại cho khách hàng vay vốn.
Vé lý thuyết, hai loại giao dịch này khác nhau ở chỗ, giao địch cam kết chỉ có hệ quả làm phát sinh các quyền, nghĩa vụ pháp lý cho các bên tham gia vào giao dịch, còn giao dịch định đoạt lại có hệ quả làm chuyển dịch quyền sở hữu một tài sản từ chủ thể này sang chủ thể khác (các bên tham gia vào giao dịch) để nhằm thực hiện các quyền, nghĩa vụ đã phát sinh từ giao dịch cam kết”.