Chương 1: Lý luận chung về rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phƣơng thức tín dụng chứng từ. Chương 2: Thực trạng rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế theo phƣơng thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam chi nhánh Bình Thuận. Chương 3: Giải pháp hạn chế và phòng ngừa rủi ro trong thanh toán quốc tế theo phƣơng thức tín dụng chứng từ tại ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam chi nhánh Bình Thuận. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI Nghiên cứu giúp cho ban lãnh đạo Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Ngoại thƣơng Việt Nam chi nhánh Bình Thuận nhận ra đƣợc thực trạng và nguyên nhân rủi ro trong phƣơng thức tín dụng chứng từ đang diễn ra tại chi nhánh.
Từ đó áp dụng những giải pháp hữu hiệu mà tác giả đã đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả quản trị hoạt động ngân hàng. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra đƣợc những hạn chế mà thể chế pháp lý hiện hành gây nên rủi ro cho các bên tham gia trong giao dịch. Nhờ đó mà các nhà hoạch định, điều hành chính sách có thể điều hành nền kinh tế vĩ mô và điều chỉnh thể chế nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống các ngân hàng, đặc biệt là nghiệp vụ thanh toán quốc tế. TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU Hoạt động kinh doanh ngân hàng luôn ẩn chứa những rủi ro do sản phẩm kinh doanh của ngân hàng mang nhiều đặc trƣng.
Chính vì vậy mà yêu cầu hạn chế LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 rủi ro trong hoạt động luôn đƣợc các nhà nghiên cứu quan tâm và tiến hành thực hiện. Trong đó, rủi ro nghiệp vụ thanh toán quốc tế theo phƣơng thức tín dụng chứng từ cũng nhận đƣợc không ít sự quan tâm của các nhà nghiên cứu nhƣ Lƣơng Thị Huyền (2013) tại ngân hàng Vietcombank Đắk Lắk, Phạm Thị Diệu Linh (2008) tại ngân hàng Vietinbank, Nguyễn Ngọc Bảo Ngân (2013) tại Ngân hàng Eximbank. Các nghiên cứu trên đã phân tích những tình huống rủi ro xảy ra trong thực tiễn hoạt động của ngân hàng và đề xuất đƣợc giải pháp phòng ngừa rủi ro theo hƣớng định tính. Tuy nghiên do đặc điểm của từng ngân hàng khác nhau (kể cả các chi nhánh khác nhau trong cùng một hệ thống) nên không thể áp dụng những giải pháp này cho Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Ngoại thƣơng Việt Nam chi nhánh Bình Thuận.
Chính vì vậy, nghiên cứu của tác giả sẽ góp phần lấp đầy khoảng trống trong việc hạn chế rủi ro phƣơng thức tín dụng chứng từ trong hoạt động của hệ thống ngân hàng thƣơng mại. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƢƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ RỦI RO TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƢƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ 1. Những vấn đề chung về phƣơng thức thanh toán tín dụng chứng từ 1.
Khái niệm phƣơng thức tín dụng chứng từ Phƣơng thức tín dụng chứng từ đƣợc mô tả bằng các tên gọi khác nhau nhƣ thƣ tín dụng (Letter of Credit - L/C), tín dụng chứng từ (Documentary Credit). Cho dù đƣợc gọi dƣới bất kỳ tên gọi nào thì bản chất của phƣơng thức thanh toán quốc tế này vẫn không đổi và đƣợc định nghĩa cụ thể trong Quy tắc và thực hành thống nhất Tín dụng chứng từ 600 (UCP 600 – The Uniform Customs and Practice for Documentary Credits 600) do Phòng thƣơng mại quốc tế (ICC - International Chamber of Commerce) ban hành, thay thế cho UCP 500 ngày 01/7/2007 (Trade Finance Global 2019). Cụ thể, theo Điều 2 UCP 600 thì: “Thư tín dụng cho dù được gọi và mô tả dưới dạng như thế nào thì nó là một thoả thuận không huỷ ngang nên nó là một cam kết chắc chắn của Ngân hàng phát hành về việc thanh toán toàn bộ chứng từ xuất trình phù hợp. Thanh toán theo nghĩa là: Trả ngay nếu thư tín dụng có giá trị thanh toán trả ngay.
Cam kết thanh toán và thanh toán tại ngày đến hạn nếu thư tín dụng có giá trị thanh toán trả chậm. Chấp nhận hối phiếu được ký phát bởi người thụ hưởng và thanh toán tại ngày đến hạn nếu thư tín dụng có giá trị cho phép chấp nhận thanh toán.” Thông qua khái niệm trên, chúng ta có thể xem L/C là một cam kết thanh toán có điều kiện của ngân hàng phát hành theo thoả thuận giữa bên bán và bên mua. Theo đó, L/C là văn bản, chứng từ xác thực nghĩa vụ thanh toán của Ngân hàng phát hành cho ngƣời thụ hƣởng (NTH) theo chỉ định của ngƣời đề nghị mở L/C theo hình thức trả ngay hoặc trả tại một thời điểm xác định trong tƣơng lai với một số tiền nhất định với yêu cầu NTH phải xuất trình bộ hồ sơ phù hợp với quy định trong L/C (Lê Phan Thị Diệu Thảo 2013). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Quy trình thanh toán bằng phƣơng thức tín dụng chứng từ L/C tồn tại nhiều dạng khác nhau tuỳ vào tiêu chí phân loại. Mỗi dạng có những cách thức hoạt động khác nhau nhƣng chung quy lại thì quy trình thanh toán bằng phƣơng thức L/C bao gồm những bƣớc cơ bản đƣợc trình bày tại Hình 1. Ngân hàng phát hành Ngân hàng thông báo (8) (7) (3) (2) (10) (11) (4) (6) (9) (5) (1) Nhà nhập khẩu Nhà xuất khẩu Nguồn: letterofcredit.1 Quy trình thanh toán bằng tín dụng chứng từ Bƣớc 1: Bƣớc đầu tiên của quy trình sử dụng phƣơng thức thanh toán bằng L/C là thỏa thuận về các điều khoản bán hàng giữa nhà xuất khẩu (XK) và nhà nhập khẩu (NK), sự kiện này kết thúc bằng việc ký hợp đồng mua bán. Điều quan trọng cần nhấn mạnh ở đây là L/C không phải là hợp đồng mua bán nhƣng nó đƣợc lập dựa trên hợp đồng mua bán.
Chính vì vậy mà một hợp đồng mua bán quy định rõ từng điều khoản quan trọng sẽ giúp cho việc xác lập L/C ràng buộc đƣợc nghĩa vụ thanh toán của nhà NK cho nhà XK, giúp tránh đƣợc các rủi ro có thể xảy ra. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Bƣớc 2: Sau khi hợp đồng mua bán đã đƣợc ký, nhà NK gửi cho ngân hàng phục vụ mình (ngân hàng phát hành) giấy đề nghị mở L/C. Giấy đề nghị mở L/C có nội dung phải phù hợp với các điều khoản của hợp đồng mua bán cơ sở. Bƣớc 3: Ngay khi nhà NK và ngân hàng của mình đạt đƣợc thỏa thuận với nhau, ngân hàng của nhà NK sẽ phát hành L/C.
Trong trƣờng hợp ngân hàng phát hành và nhà XK ở các quốc gia khác nhau, ngân hàng phát hành có thể sử dụng dịch vụ của ngân hàng khác để thông báo L/C cho nhà XK. Bƣớc 4: Ngân hàng thông báo sẽ thông báo L/C đƣợc phát hành cho nhà XK mà không chịu bất kỳ cam kết thanh toán hoặc thƣơng lƣợng nào. Ngân hàng thông báo có hai trách nhiệm đối với NTH: (i) đảm bảo tính xác thực rõ ràng của L/C và (ii) đảm bảo rằng thông báo đƣợc đƣa ra phải phản ánh chính xác các điều khoản và điều kiện của L/C. Bƣớc 5: Nhà XK cần kiểm tra các điều kiện thanh toán của L/C ngay khi nhận đƣợc từ ngân hàng thông báo.
Nếu phát hiện một số khác biệt trong nội dung của L/C và hợp đồng thƣơng mại, nhà XK cần thông báo cho nhà NK về những điểm này và yêu cầu sửa đổi. Nếu L/C có điều kiện hợp lý với nhà XK, thì nhà XK bắt đầu sản xuất hàng hóa để thực hiện giao hàng vào hoặc trƣớc ngày giao hàng mới nhất đƣợc nêu trong L/C. Nhà XK vận chuyển đơn đặt hàng theo các điều khoản và điều kiện ghi trong L/C. Bƣớc 6: Khi hàng hóa đƣợc giao đúng theo điều khoản giao hàng, nhà XK thu thập các chứng từ đƣợc L/C yêu cầu và chuyển chúng đến ngân hàng thông báo.
Bƣớc 7: Ngân hàng thông báo gửi các chứng từ này cho ngân hàng phát hành theo uỷ quyền của nhà XK. Bƣớc 8: Ngân hàng phát hành kiểm tra các chứng từ này theo các điều khoản và điều kiện của L/C và các quy tắc quản lý, hầu hết là phiên bản mới nhất của UCP (UCP hiện nay áp dụng là UCP 600). Nếu các chứng từ đƣợc cho là không có sai sót và hoàn hảo thì ngân hàng phát hành phải chấp hành yêu cầu thanh toán (Trả ngay hoặc ký chấp nhận hối phiếu trả chậm). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Bƣớc 9: Ngân hàng thông báo chuyển tiền ghi có cho nhà XK trong trƣờng hợp L/C trả ngay, chuyển hối phiếu đã đƣợc chấp nhận thanh toán trong trƣờng hợp trả chậm và thông báo từ chối nếu bộ chứng từ (BCT) không phù hợp với các điều khoản quy định trong L/C.
Bƣớc 10: Nhà NK thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình đối với đơn hàng này cho ngân hàng phát hành. Trong trƣờng hợp thanh toán 100% bằng vốn tự có của nhà NK thì nhà NK cần chuyển số tiền còn lại (sau khi đã trừ số tiền ký quỹ) thanh toán cho ngân hàng phát hành và ngƣợc lại nếu đƣợc tài trợ bằng vốn vay thì cần ký khế ƣớc nhận nợ. Bƣớc 11: Ngân hàng phát hành chuyển các chứng từ giao nhận hàng hoá cho nhà NK để làm thủ tục NK tại hải quan và nhận hàng hoá về. Đặc trƣng của phƣơng thức tín dụng chứng từ Phƣơng thức thanh toán bằng L/C yêu cầu nhà NK và nhà XK phải thông qua ít nhất là một ngân hàng (trong trƣờng hợp này, ngân hàng phát hành vừa là ngân hàng thông báo).
Với sự tham gia của nhiều bên thì vai trò của từng bên tham gia cần phải đƣợc xác thực một cách rõ ràng, cụ thể. Tuy nhiên để nắm đƣợc vai trò của từng bên, chúng ta cần phải hiểu đƣợc đặc trƣng cơ bản của L/C. Các đặc trƣng này đƣợc thể hiện rõ tại Điều 4 và 5 UCP 600. Khoản a, Điều 4 UCP 600 quy định nhƣ sau “Về bản chất, thƣ tín dụng là một thoả thuận riêng biệt với hợp đồng mua bán hoặc các hợp đồng khác mà có thể là cơ sở để thành lập thƣ tín dụng.
Các ngân hàng không liên quan đến hoặc ràng buộc nghĩa vụ bởi các hợp đồng cơ sở này, ngay cả khi thƣ tín dụng có dẫn chiếu đến các hợp đồng đó. Do đó, sự cam kết của một ngân hàng về việc thanh toán, thƣơng lƣợng thanh toán hoặc thực hiện bất cứ nghĩa vụ nào khác trong thƣ tín dụng không phụ thuộc vào bất kỳ khiếu nại nào của ngƣời yêu cầu phát hành thƣ tín dụng phát sinh từ các quan hệ của họ đối với ngân hàng phát hành hoặc NTH,…” (Tác giả tạm dịch) (International Chamber of Commerce 2007).