Chương I: Giới thiệu luận văn thạc sĩ. Chương II: Tổng quan về rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại. Chương III: Thực trạng rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng tại các Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam khu vực TP. Chương IV: Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại các Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam khu vực TP.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Khái niệm Tín dụng là một nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng thương mại, trong đó NHTM (bên cho vay) thoả thuận chuyển giao tài sản (tiền hoặc hiện vật) cho khách hàng (bên đi vay) sử dụng trong một thời gian nhất định, khi đến hạn thanh toán, bên đi vay có trách nhiệm vô điều kiện trong hoàn trả gốc ban đầu và trả thêm phần lãi cho bên cho vay. Tín dụng ra đời cùng với sự xuất hiện của tiền tệ và là một thuật ngữ phổ biến trong nền kinh tế cũng như trong đời sống xã hội. Trong thực tế cuộc sống thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau: Theo ngôn từ dân gian Việt Nam: Tín dụng là quan hệ vay mượn. Theo Từ điển Thuật ngữ Tài chính Tín dụng (1996) thì: “Tín dụng là một phạm trù kinh tế thể hiện mối quan hệ giữa người cho vay và người vay.
Trong quan hệ này, người cho vay có nhiệm vụ chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặc hàng hoá cho vay trong một thời gian nhất định. Người đi vay, khi tới thời hạn trả nợ có nghĩa vụ hoàn trả số tiền hoặc giá trị hàng hoá đã vay, có hoặc không kèm theo một khoản lãi”. Theo Tô Kim Ngọc (2004), thì: “Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức tiền tệ hoặc hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu”. Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng vay dựa trên nguyên tắc tin tưởng, tín nhiệm và nguyên tắc hoàn trả đầy đủ đúng hạn.
Theo đó, nguyên tắc tín nhiệm, tin tưởng căn cứ chủ yếu vào tư cách, thiện chí trả nợ của người vay. Còn nguyên tắc hoàn trả đầy đủ, đúng hạn là quyền sử dụng vốn được chuyển giao cho TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 người vay sử dụng, người vay cam kết hoàn trả đầy đủ, đúng hạn cả nợ gốc và lãi cho ngân hàng. Khi nguyên tắc này bị vi phạm thì rủi ro tín dụng xảy ra. Tín dụng ngân hàng đóng vai trò trung gian giải quyết mâu thuẩn phát sinh trong quá trình tuần hoàn, chu chuyển vốn của các chủ thể trong nền kinh tế.
Tín dụng ngân hàng thu hút nguồn vốn tiết kiệm, nguồn vốn nhàn rỗi và thúc đẩy quá trình tập trung vốn, đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế thông qua hoạt động cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân.2 Phân loại tín dụng Nhìn chung, có nhiều cách phân loại tín dụng tùy vào tiêu thức phân loại, bao gồm: Căn cứ vào thời hạn cấp tín dụng Theo thời hạn thì tín dụng được phân loại theo 3 hình thức là ngắn hạn, trung hạn và dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh; nhu cầu đời sống; dự án đầu tư…của các tổ chức, cá nhân. Cụ thể, cho vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng; Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn từ trên 12 tháng đến 60 tháng; Cho vay dài hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 60 tháng. Căn cứ vào biện pháp bảo đảm tín dụng Theo tiêu thức này thì tín dụng được chia thành 2 loại là cấp tín dụng có tài sản bảo đảm và cấp tín dụng không có tài sản bảo đảm. Cấp tín dụng có tài sản bảo đảm là các khoản cấp tín dụng mà ngân hàng áp dụng biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng tài sản của người vay hoặc bên thứ ba nhằm tạo áp lực trách nhiệm để khách hàng trả nợ; phòng ngừa rủi ro, tránh tổn thất vốn khi người vay không trả được nợ đồng thời tạo cơ sở pháp lý nếu có xử lý tài sản thu hồi vốn.
Cấp tín dụng không có tài sản bảo đảm là các khoản cấp tín dụng mà ngân hàng cấp tín dụng không áp dụng biện pháp phòng ngừa rủi ro bằng việc yêu cầu người vay thực hiện các biện pháp bảo đảm tiền vay. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Căn cứ vào ngành nghề, lĩnh vực cấp tín dụng Phân loại theo ngành, lĩnh vực cấp tín dụng nhằm quản lý rủi ro tín dụng theo danh mục được tốt hơn vì mỗi ngành nghề sẽ có mức độ rủi ro khác nhau. Phân loại theo ngành nghề còn phục vụ công tác thống kê cũng như ban hành các chính sách về tiền tệ. Theo đó, tín dụng được phân loại theo các ngành nghề, lĩnh vực như: Nông – lâm – thủy sản, sản xuất - khai khoáng; Chế biến; Xây dựng; Thương mại – dịch vụ, tiêu dùng.3 Đo lường hoạt động tín dụng Quy mô tín dụng Quy mô tín dụng không trực tiếp phản ánh rủi ro tín dụng nhưng nếu quy mô tín dụng tăng quá lớn, vượt khả năng quản trị, kiểm soát của ngân hàng thì lúc này quy mô tín dụng sẽ phản ánh rủi ro tín dụng.
Cơ cấu tín dụng Cơ cấu danh mục tín dụng phản ánh mức độ tập trung dư nợ vào các ngành nghề, lĩnh vực được cấp tín dụng. Nếu cơ cấu tín dụng lệch về những ngành nghề lĩnh vực mạo hiểm sẽ tiềm ẩn nguy cơ rủi ro tín dụng cao. Nhiều nghiên cứu chỉ ra các khoản cấp tín dụng vào lĩnh vực xây dựng, bất động sản có mức rủi ro cao nhất, tiếp theo là các khoản tín dụng trong lĩnh vực sản xuất – thương mại. Cơ cấu tín dụng được phân theo các nhóm như: cơ cấu tín dụng theo ngành nghề, cơ cấu tín dụng theo thời hạn cho vay và cơ cấu tín dụng theo tài sản bảo đảm.2 Rủi ro tín dụng 2.1 Khái niệm “Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng” (Trần Huy Hoàng, 2011) Theo Jorion (2009), rủi ro tín dụng là rủi ro tổn thất kinh tế do bên đối tác không thể thực hiện đầy đủ nghĩa vụ được quy định trong hợp đồng được ký kết giữa các bên liên quan.
Rủi ro này được đo lường bằng chi phí phải bỏ ra để có được dòng tiền thay thế nếu bên đối tác phá sản. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Theo Ủy ban Basel thì rủi ro tín dụng được hiểu là tổn thất có thể phát sinh khi một bên đối tác không thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc nghĩa vụ theo hợp đồng đối với một ngân hàng, trong đó bao gồm việc không thanh toán một phần hay toàn bộ nợ gốc hay nợ lãi khi đến hạn. Trong tài liệu “Financial Institutions Management – A Modern Perpective”, A.Lange định nghĩa rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản vay của ngân hàng không thể thực hiện đầy đủ về cả số lượng và thời hạn. Theo khoản 1 Điều 3, Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 do Ngân hàng Nhà nước ban hành Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết.
Các định nghĩa khá đa dạng nhưng nhìn chung, rủi ro tín dụng có các nội dung cơ bản như sau: - Rủi ro tín dụng khi người vay không thực hiện đúng nghĩa vụ theo hợp đồng vay vốn, bao gồm cả việc không hoàn trả đầy đủ, đúng hạn gốc và/hoặc lãi; hoặc sử dụng vốn vay sai mục đích đã thoả thuận. - Rủi ro tín dụng sẽ dẫn đến tổn thất tài chính, trong trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến thua lỗ, hoặc phá sản. - Rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng của ngân hàng là hai đại lượng đồng biến với nhau. Trong một phạm vi nhất định, lợi nhuận kỳ vọng càng cao, rủi ro tiềm ẩn càng lớn.
- Rủi ro mang tính khách quan và luôn tồn tại nên chúng ta không thể nào loại bỏ hoàn toàn được mà chỉ có thể hạn chế rủi ro xảy ra cũng như hạn chế tổn thất mà rủi ro gây ra. Tuy nhiên, chúng ta cần hiểu rủi ro tín dụng theo cách hiểu xác suất, là khả TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 năng có thể xảy ra hoặc không xảy ra tổn thất. Điều này nghĩa là một khoản cấp tín dụng dù chưa quá hạn nhưng vẫn luôn tiềm ẩn khả năng xảy ra tổn thất, một ngân hàng dù có tỉ lệ nợ quá hạn thấp nhưng nguy cơ rủi ro tín dụng vẫn sẽ cao nếu danh mục đầu tư tín dụng tập trung vào một nhóm khách hàng, ngành nghề kinh doanh tiềm ẩn nhiều rủi ro. Cách hiểu này sẽ giúp cho hoạt động quản trị rủi ro tín dụng được chủ động, đảm bảo chống đỡ và bù đắp tổn thất khi rủi ro xảy ra.2 Phân loại rủi ro tín dụng Có nhiều cách phân loại rủi ro tín dụng tuỳ theo tiêu chí, mục đích, yêu cầu nghiên cứu.
Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro Nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, thì rủi ro tín dụng bao gồm rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục. Rủi iro igiao idịch ilà imột ihình ithức icủa irủi iro itín idụng imà inguyên inhân iphát sinh ilà ido inhững ihạn ichế itrong iquá itrình igiao idịch, ithẩm iđịnh ivà ixét iduyệt icho i vay, iđánh igiá ikhách ihàng.