đặt vấn đề, mô hình toán học đã xây dựng, các thuật toán đã sử dụng, kết quả thu được. Khả năng thứ hai: mô hình và kết quả không phù hợp với thực tế. Lúc này phải tìm nguyên nhân. Có thể đặt ra những câu hỏi sau: - Các kết quả tính ở bước thứ ba có đủ độ chính xác không? Để trả lời, người ta phải kiểm tra lại các thuật toán, các quy trình, các tính toán đã sử dụng.
Ở đây, người ta tạm chấp nhận rằng mô hình toán học (và cũng có nghĩa là mô hình trung gian) xây dựng như vậy là thỏa đáng. 10 - Mô hình toán học xây dựng như thế đã thỏa đáng chưa? Nếu chưa thì phải xây dựng lại. Với loại câu hỏi này, ta tạm chấp nhận mô hình trung gian đã xây dựng, nhưng phải xem xét lại mô hình toán học đã lựa chọn. - Mô hình trung gian xây dựng có phản ánh được đầy đủ hiện tượng thực tế không? Nếu không thì cần phải rà soát lại bước 1 xem có yếu tố, quy luật nào bị bỏ sót không.3: Quãng đường AB dài 270 km, ơ hai ô tô khởi hành cùng một lúc lúc đi từ A đến B, ô tô thứ nhất chạy nhanh hơn ô tô thứ hai là 12 km/h nên đến trước ô tô thứ hai 42 phút.
Tính vận tốc mỗi xe? Sử dụng 4 bước mô hình hóa ở trên để giải ví dụ 3 như sau: Bước 1: Quan sát và thu thập số liệu có liên quan, điền vào bảng sau dựa trên các câu hỏi: - Đề bài hỏi gì? Ta sẽ phải có mấy ẩn? Điều kiện của ẩn số là gì? - Quãng đường của mỗi xe đi dài bao nhiêu km? Bảng 1.1: Bảng biểu thị mối quan hệ giữa các đại lƣợng trong VD 1.3 Quãngđường S (km) Vận tốc V (km/h) Thời gian t (h) 270 Xe thứ nhất 270 x x 270 Xe thứ hai 270 y y Bước 2: Xét các mối quan hệ để biểu diễn tình huống thành một bài toán liên quan đến phương trình - Khi biết quãng đường đi được và vận tốc của mỗi xe, ta tính thời gian đi của mỗi xe như thế nào? - Sau khi đã điền đủ các ô trong bảng, còn lại sự kiện nào trong đề bài chưa sử dụng? Hệ phương trình lập được là gì? Ô tô thứ nhất chạy nhanh hơn ô tô thứ hai là 12 km/h, nên: trên x - y = 12 Ô tô thứ nhất đến trước ô tô thứ hai là 42 phút: 270 270 42 7 y x 60 10 Từ đó, ta suy ra hệ phương trình và giải hệ Tìm hai ẩn. 11 7 Bước 3: Giải hệ phương trình đã xác lập: Đổi 42 phút (h) 10 Gọi vận tốc của xe thứ nhất và xe thứ hai lần lượt là x và y (km/h), với x,y > 0 và x > 12. Xe thứ nhất chạy nhanh hơn xe thứ hai 12 km/h, nên ta có phương trình: 270 x - y = 12. Xe thứ nhất đi quãng đường 270 km nên vận tốc của xe thứ nhất là: x 270 (km/h).
Xe thứ hai đi quãng đường 270 km vận tốc xe thứ hai là: (km/h). Xe thứ y nhất đến trước xe thứ hai là 42 phút, nên: 270 270 42 7 y x 60 10 Khi đó, ta có hệ phương trình: x y 12 x 12 y 270 270 7 270 270 7 y x 10 y x 10 x 12 y 2700(12 y ) 2700 y 7(12 y ) 10 y (12 y ) 10 y (12 y ) 10 y (12 y ) x 12 y 2 7 y 84 y 32400 0 Giải phương trình bậc 2 ẩn y thu được: y1 62,3 (TM), y2 74,3 (loại) Thay y1 62,3 vào phương trình còn lại, ta có: x 74,3 (TM) Vậy vận tốc của xe thứ nhất là 74,3km/h, vận tốc của xe thứ hai là 62,3km/h. Bước 4: Đối chiếu kết quả với tình huống thực tiễn đã cho, ta có: quãng đường AB dài 270 km, 2 ô tô khởi hành cùng một lúc đi từ A đến B,ô tô thứ nhất chạy nhanh hơn ô tô thứ hai 12km/h nên đến trước ô tô thứ hai 42 phút. Tính vận tốc mỗi xe? Hiệu 2 vận tốc là: 74,3 - 62 ,3 = 12 (km/h).
Thời gian ô tô thứ nhất đi hết quãng đường là: 270 : 74,3 3,6339(h) Thời gian ô tô thứ hai đi quãng đường là: 270 : 62,3 4,3338(h) Hiệu thời gian của hai ô tô là: (4,3338 3,6339).60 42( phút ) Như vậy, kết quả của bài toán thu được hoàn toàn phù hợp với số liệu của tình huống thực tế. Vai trò và ý nghĩa của bài toán thực tiễn trong dạy học Toán Việc học toán, hiểu theo nghĩa rộng có thể xem là học cách giải toán, trong DH mỗi bài toán được sử dụng đều có mục đích, chức năng nhất định. Một số vai trò và ý nghĩa có thể tìm thấy ở BTTT là: - Tạo hứng thú, gợi động cơ học Toán cho HS (với sự hấp dẫn của các tình huống thực tiễn, kích thích sự tò mò và ham muốn giải quyết vấn đề, thấy được sự gắn bó giữa thực tiễn và Toán học của bản thân người học). - Giúp HS thấy rõ vai trò công cụ hữu hiệu của Toán học trong đời sống xã hội (phong phú, đa dạng), củng cố cho các em nhận thức đúng về nguồn gốc và giá trị thực tiễn của Toán học.
- Góp phần phát triển các năng lực chung cũng như các năng lực đặc thù đối với môn Toán. - Góp phần thực hiện nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của giáo dục TH là dạy ứng dụng TH. - Cùng với việc sưu tầm, thiết kế các BTTT, sẽ nâng cao trình độ hiểu biết của GV toán đối với chính khoa học Toán học và môn Toán trong trường phổ thông rõ về bản chất của Toán học, góp phần đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học toán của HS. Phân loại các bài toán thực tiễn Theo [23], BTTT xét về mặt phản ánh hiện thực có thể phân thành hai loại chính, đó là: bài toán chứa tình huống giả định và bài toán chứa tình huống thực, mặc dầu sự phân biệt đó chỉ có tính chất tương đối.
Bài toán chứa tình huống giả định là những bài toán chứa tình huống liên quan đến thực tiễn chỉ mang tính chất mô phỏng, được sáng tác theo ý chủ quan của người biên soạn cho phù hợp với yêu cầu dạy học một nội dung cụ thể nào đó, các dữ kiện không phản ánh đúng hoàn toàn với hiện thực. Có thể nói BTTT thuộc loại giả định chiếm một tỷ lệ rất lớn trong tổng số các ví dụ, các bài tập trong SGK, sách bài tập toán của HS nước ta từ cấp tiểu học trở lên.4: Xét bài toán: “Một canô chạy trên sông trong 8giờ, xuôi dòng 135 km vàngược dòng 63 km. Một lần khác, canô cũng chạy trên sông trong 8 13 giờ, xuôi dòng 108 km và ngược dòng 84 km. Tính vận tốc dòng nước chảy và vận tốc của canô.” Bài toán này là có thể được xây dựng từ một tình huống thực “Vận tốc thực của canô và tốc độ của dòng nước có mối liên quan chặt chẽ khi canô chạy ngược hay xuôi dòng”.
Vận tốc, đặc biệt là vận tốc canô có thể thay đổi theo thời gian. Tuy nhiên, để giải quyết được bài toán này, chúng ta nhất thiết phải giả định “vận tốc thật của canô và vận tốc nước chảy là không đổi”. Ngoài ra, chẳng hạn để tính chiều dài của bờ biển thì phải giả định rằng bờ biển là đường thẳng, tính vận tốc của một ô tô chuyển động đều thì “chuyển động đều” là giả định bởi trong thực tế thì chuyển động của ô tô khó có thể là chuyển động đều,.5: Xét bài toán: “Có ba lớp 10A, 10B, 10C gồm 132 HS cùng tham gia lao động trồng cây. Mỗi HS lớp 10A trồng được 3 cây bạch đàn và 4 cây bàng.
Mỗi HS lớp 10B trồng được 2 cây bạch đàn và 5 cây bàng. Mỗi HS lớp 10C trồng được 6 cây bạch đàn. Cả ba lớp trồng được 476 cây bạch đàn và 375 cây bàng. Hỏi mỗi lớp có bao nhiêu HS? Bài toán này được xây dựng từ hoạt động thực tế trồng cây của các trường học hiện nay.
Tuy nhiên, các dữ liệu và yêu cầu của bài toán đã được thay đổi hoặc mô phỏng vì trên thực tế, số lượng HS sẽ không giống nhau. Song, việc giải bài toán này phần nào giúp HS hiểu thêm ứng dụng của hệ phương trình vào TT cuộc sống. Mặc dù vậy tình huống giả định trong bài toán loại này đã tạo cơ hội cho HS tập luyện vận dụng kiến thức Toán học vào một khía cạnh của thực tiễn đời sống. Bài toán chứa tình huống thực xuất hiện từ hoạt động thực tiễn, phản ánh hoặc mô tả hiện tượng hoặc quan hệ trong các lĩnh vực phong phú và đa dạng của thực tiễn, gắn liền với các yếu tố sống động của cuộc sống thực.6: Ban Quản lí khu công viên quyết định dựng một cây đèn chiếu sángmột khu hình tam giác của công viên.
Cây đèn nên đặt ở đâu? Đây là một bài toán với tình huống thực có thể xảy ra ở rất nhiều nơi. Để giải quyết được bài toán này, chúng ta cần xác định thêm các thông tin về kích thước công viên, về các loại bóng đèn và độ phủ sáng tương ứng. Những bài toán này có vẻ “thực”, tỏ ra sống động hơn và tạo sự hấp dẫn hơn đối với HS. Tuy nhiên, trên thực tế thì tìm kiếm, xây dựng những bài toán này là không dễ, đòi hỏi phải có cách thức linh hoạt, công phu.
Vì vậy, trong giảng dạy, bên cạnh việc sưu tầm những bài toán chứa tình huống thực thì việc sử dụng các tình 14 huống giả định để thiết kế các BTTT là điều rất cần thiết nhằm làm phong phú thêm tập hợp BTTT cho HS. Qua giải quyết các bài toán này dù là “giả định” hay “thực” đều góp phần thể hiện ý nghĩa, tác dụng của loại bài tập này. HS sẽ được rèn luyện kĩ năng vận dụng giải toán. Bài toán chứa tình huống giả định hoặc có thực trong thực tiễn cuộc sống, học tập (trước hết là thực tiễn gần gũi, quen thuộc với người học) cũng có thể đưa ra những dạng toán ở cấp độ phức tạp hơn về mô hình Toán học hoặc tình huống thực tiễn cho HS khá, giỏi.