Chương 1: Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội chương 2: Hiện trạng mạng lưới giao thông vận tải Chương 3: Nghiên cứu qui hoạch phát triển giao thông đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030 4 CHƢƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI 1. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 1.1 Vị trí địa lí Phú Quốc là huyện đảo của tỉnh Kiên Giang, là quần thể gồm 26 đảo lớn nhỏ. Trong đó, đảo Phú Quốc là hòn đảo lớn nhất lãnh thổ Việt Nam, nằm trong vịnh Thái Lan, có toạ độ địa lý 9o48’30” đến10o26’30” vĩ độ bắc, 103o27’ đến 104o9’ độ kinh Đông, tổng diện tích tự nhiên 589km2, chu vi bờ biển khoảng 150km. Đảo Phú Quốc nằm cách thành phố Rạch Giá 120 km, Hà Tiên 46 km và cách các nước trong khu vực: Camphuchia 3km (điểm gần nhất), Thái Lan (500km), Malaysia (700km), Singapore (1.
Chính nhờ vị trí địa lý đặc biệt này mà Phú Quốc có vai trò rất quan trọng về chính trị, kinh tế, anh ninh quốc phòng của vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và của cả nước nói chung, cũng như trong giao lưu hàng hải quốc tế. Đảo có chiều dài theo hướng Bắc Nam 49,0km, chiều rộng chỗ rộng nhất ở Bắc đảo là 27km, nơi hẹp nhất của đảo ở phía Nam là 3,0km. Đặc biệt trên chiều dài khoảng 150km đường bờ biển quanh đảo có nhiều bãi biển đẹp, điển hình là bãi Giếng, bãi Khem, bãi Sao, bãi Vòng, bãi Thơm, bãi Vũng Bầu, bãi Cửa Cạn, bãi Dinh Cậu, bãi Dài,. Bờ và bãi biển là dạng địa hình đặc trưng thường được khai thác trong phát triển du lịch biển - đảo.
Địa hình bờ biển đảo Phú Quốc, ngoài những bãi biển đẹp thuận lợi cho hoạt động tắm biển, còn có dạng bờ mài mòn đá gốc ở phía Bắc và các mũi đá gốc chạy sát ra biển tạo nhiều cảnh quan đẹp như Gành Cậu, mũi Tàu Rũ, mũi Ông Đội,. Ngoài đảo chính Phú Quốc, hệ thống các quần đảo An Thới, Hải Tặc, Thổ Chu và một số đảo rải rác gồm 36 đảo ở khu vực phụ cận tạo nên cảnh quan đẹp làm tăng sức hấp dẫn của du lịch đảo Phú Quốc. 1: Vị trí đảo Phú Quốc 1.Khí hậu Phú Quốc nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo nhưng bị chi phối mạnh bởi quy luật của biển nên khí hậu ôn hòa hơn so với đất liền và thích hợp cho nghỉ ngơi du lịch. Nhiệt độ trên đảo cao đều trong năm, trung bình khoảng 27,10 C.
Tháng 4 là tháng nóng nhất cũng chỉ ở mức trung bình 28,30C. Tháng 1 có nhiệt độ thấp nhất, khoảng 250C. Phú Quốc là hòn đảo có nhiều nắng. Số giờ nắng khoảng 1.445 giờ/năm, bình quân có từ 6 - 7 giờ nắng trong ngày, điều kiện này khiến Phú Quốc trở nên hấp dẫn với du lịch biển.
Lượng mưa bình quân đảo Phú Quốc khá lớn, khoảng trên 3000 mm. Đây là điều kiện thuận lợi để có thể xây dựng hồ đập tích nước phục vụ các nhu cầu đô thị 6 và du lịch. Tuy nhiên, phân bố mưa trong năm khá khắc nghiệt: trên 90% lượng mưa tập trung vào mùa mưa kéo dài trong 8 tháng (kéo dài hơn các tỉnh vùng ĐBSCL); còn 4 tháng từ tháng 12 đến tháng 3 lượng mưa rất ít. Điều này đòi hỏi việc tính toán hồ đập để dự trữ nước cho các tháng mùa khô.
Có 2 hướng gió chính thay đổi trong năm: Gió mùa Đông Bắc thịnh hành từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau (mùa khô), tốc độ gió trung bình biến đổi từ 2,8 - 4,0m/s; Gió Tây – Nam thịnh hành vào mùa mưa từ tháng 5 tới tháng 10. Tốc độ gió trung bình biến đổi từ 3,0 - 5,1m/s. Gió mạnh thường xảy ra vào các tháng 6 - 7 và 8, vận tốc gió tuyệt đối lên tới 31,7m/s. Địa hình Địa hình đảo Phú Quốc khá phức tạp và bị chia cắt bởi nhiều sông suối, đồi núi.
Đặc điểm này khiến việc tổ chức hệ thống giao thông và hạ tầng kỹ thuật gặp nhiều khó khăn nhưng lại tạo nhiều cảnh quan sinh động, đẹp và hấp dẫn du lịch. Khu vực phía Đông Bắc đảo là khu vực có địa hình cao. Trên đảo có 99 ngọn núi, cao nhất là núi Chúa (565m), tiếp đến là núi Vò Quao (478m), núi Ông Thầy (438m), núi Đá Bạc (448m và 365m). Hàm Ninh là dãy núi lớn nhất, độ cao trung bình từ 300 - 500m.
Phía sườn núi phía Đông dãy Hàm Ninh là dốc đứng. Khu vực phía Nam đảo (giới hạn từ tỉnh lộ 47 trở xuống) là địa hình dạng đồi núi xen kẽ các đồng bằng hẹp có độ dốc trung bình 15o, thấp dần về phía Tây và Tây - Nam. Trong tổng số diện tích đất, có khoảng 6.900ha có cao độ dưới 5m và độ dốc dưới 80 chiếm 11,6%. Đất nằm ở cao độ từ 5m tới 40m với độ dốc dưới 150 có khoảng 14.
Phần diện tích còn lại chiếm 64,2% có cao độ trên 40m và độ dốc trên 150. Thềm bờ biển ven đảo Phú Quốc tương đối cạn (từ 1,5- 4m): cách bờ khoảng 100 - 500m, phần phía Đông đảo chỉ sâu từ 1 - 3m, phần phía Tây chỉ sâu khoảng 4m. Vì vậy chỉ loại tàu nhỏ cỡ 100 - 200tấn có thể cập bến. Các đảo nhỏ phía Nam thềm biển sâu cho phép tàu trọng tải lớn có thể vào được, như: xung quanh Hòn Dừa (cách mũi Hanh 1 - 2km), Hòn Thơm (cách mũi Hanh 3 - 4km), 7 đáy biển sâu tới 11m.
Đáy biển xung quanh hòn Thơm (cách mũi Hanh 6 km) sâu 14m. Với đặc điểm như vậy, địa hình Phú Quốc tạo nên những khu vực có thể khai thác phục vụ du lịch như: các bãi cát ven biển xung quanh đảo, khu vực đồi núi, các cảnh quan hấp dẫn. Một số khu vực có thể khai thác xây dựng cảng biển phục vụ vận tải hàng hóa, hành khách.Địa chất Đá trầm tích cát kết, bột kết là nền chính tạo nên đảo. Bề mặt địa hình đảo bị phong hóa tạo nên lớp phủ là sét cát pha dăm sạn dày từ 5 - 15m.
Địa hình có nhiều núi cao và sông suối tạo nên một số khu vực bồi lắng ven sông, ven biển như: Cửa Cạn, Vịnh Đầm, Rạch Tràm.v Địa chất đảo ổn định, không xảy ra động đất, sụt lún khu vực thuận lợi cho việc xây dựng phát triển 1.Thủy văn Phú Quốc có nguồn nước mặt phong phú, mật độ sông suối cao (0,42 km/km2). Phần lớn sông suối Phú Quốc đều bắt nguồn từ dãy Hàm Ninh. Rạch Cửa Cạn bắt nguồn từ núi Chúa là rạch dài nhất đảo: nhánh chính dài 28,75km, lưu vực 147km2. Rạch Dương Đông, bắt nguồn từ núi Đá Bạc, chiều dài nhánh chính 18,5km, diện tích lưu vực 105km2.
Rạch Đầm có chiều dài 14,8km, diện tích lưu vực 49km2. Ngoài ra, Phú Quốc còn nhiều rạch nhỏ khác. Theo tài liệu quan trắc, hàng năm trên đảo nhận được lượng nước mưa khoảng 1,6 tỉ m3, trong đó tập trung vào sông suối khoảng 900 triệu m3. Tuy nhiên lượng mưa phân bố không đều, tập trung 80% vào mùa mưa.
Do không có hồ chứa, nước mưa thoát ra biển hết nên mùa khô bị thiếu nước (từ tháng 11 - tháng 5). Chưa có tài liệu khảo sát về nguồn nước ngầm của đảo, nhưng qua thực tế sử dụng và các giếng đã khoan, nước ngầm tầng nông khá phong phú, tập trung ở phía Nam nhiều hơn phía Bắc đảo. Do đặc điểm địa hình phức tạp nên các sông suối đều ngắn, dốc, không tích nước được vào mùa mưa và gây xói mòn lớn.Tài nguyên thiên nhiên 1. Tài nguyên rừng Rừng Phú Quốc tập trung ở phía Bắc và Đông Bắc đảo, diện tích khoảng 37.000 ha, trong đó rừng tự nhiên khoảng 33.
Vườn quốc gia Phú Quốc được thành lập tháng 6 năm 2001 bao gồm địa phận: khu bảo tồn thiên nhiên Bắc đảo, núi Hàm Rồng, Gành Dầu và Cửa Cạn; ranh giới hành chính thuộc các xã: Gành Dầu, Bãi Thơm, Cửa Cạn và một phần các xã Cửa Dương, Hàm Ninh, Dương Tơ và thị trấn Dương Đông. Vườn quốc gia có diện tích tự nhiên hơn 31.422 ha chiếm 70% diện tích hòn đảo được quy hoạch thành 3 phân khu: phân khu bảo vệ nghiêm ngặt 8.786 ha, phân khu phục hồi sinh thái 22.603 ha, phân khu hành chính và dịch vụ, nghiên cứu khoa học 33 ha. Rừng phòng hộ huyện đảo Phú Quốc gồm 11.692 ha rừng thuộc đảo Phú Quốc và 61,8 ha rừng thuộc đảo Thổ Chu. Rừng phòng hộ có vai trò điều tiết nguồn nước cho các dòng chảy, các hồ chứa để hạn chế lũ lụt, giảm xói mòn, bảo vệ đất, ngăn sự bồi lấp lòng sông, lòng hồ.
Rừng Phú Quốc tập trung nhiều loài gỗ quý như kên kên, trai, xăng lẻ, vên vên, sao đen, sao đỏ, dầu, gõ đỏ, gồi, kim giao, cẩm thị. ngoài ra Vườn quốc gia Phú Quốc hiện có hơn 530 loài thực vật và trên 1.040 loài dược liệu quý như cam thảo, hà thủ ô, bí kỳ nam, nhân trần, đỗ trọng, sa nhân… Có hơn 150 loài động vật gồm 120 chi, 69 họ, 365 loài chim trong đó có nhiều loài quý hiếm có tên trong sách đỏ Việt Nam như vượn tay trắng và cá sấu nước ngọt. Với nguồn tài nguyên rừng phong phú, đa dạng như vậy, đảo Phú Quốc có thể khai thác một phần để phát triển du lịch. Rừng Phú Quốc còn có ý nghĩa sống còn trong việc giữ nguồn nước ngọt cho đảo.Tài nguyên biển Ngư trường Phú Quốc là một trong những ngư trường lớn ở phía Nam với trữ lượng ước tính 0,5 triệu tấn.
Năm 2004 huyện Phú Quốc khai thác khoảng 60.000 tấn chiếm khoảng 20% sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy – hải sản của cả tỉnh Kiên Giang. Nguồn lợi cá trong khu vực nhóm đảo An Thới đa dạng nhất cả 9 về thành phần loài và số lượng cá thể trong loài so với bất kỳ một vùng biển nào dọc theo bờ biển của Việt Nam. Vùng biển Phú Quốc có 108 loài san hô thuộc cả hai nhóm san hô cứng và mềm, 135 loài cá rạn san hô, 3 loài cá di cư, 132 loài thân mềm lớn sinh sống trong rạn san hô, 9 loài giáp xác, 32 loài da gai và 6 loài thú biển sinh sống. Vùng quần đảo này là nơi sinh sống và kiếm ăn của nhiều loài cá.
Có loài chỉ sinh sống tại vùng biển An Thới một giai đoạn ngắn trong vòng đời của chúng (bò biển, rùa biển. Những thảm cỏ biển rộng lớn ở vùng biển Phú Quốc có giá trị to lớn đối với toàn vùng vịnh Thái Lan và vùng Biển Đông.