phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận. Trong đó, phần nội dung của khóa luận này gồm 02 chƣơng: CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƢ VỐN CỦA DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM NHÂN THỌ CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƢ VỐN CỦA DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM NHÂN THỌ VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT 3 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƢ VỐN CỦA DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM NHÂN THỌ 1. Khái quát về hoạt động đầu tƣ vốn của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ 1. Sơ lƣợc và hoạt động kinh doanh bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ Sơ lƣợc về doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ: Giống nhƣ các doanh nghiệp khác, DNBHNT tiến hành hoạt động kinh doanh cũng nhằm mục đích chính là lợi nhuận, tuy nhiên về lĩnh vực kinh doanh thì DNBHNT có đối tƣợng kinh doanh đặc biệt hơn đó là các sự kiện xảy ra trong đời sống của ngƣời đƣợc bảo hiểm.
Trƣớc hết cần phải hiểu, DNBHNT là doanh nghiệp đƣợc thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của LKDBH và các quy định khác của pháp luật có liên quan để kinh doanh bảo hiểm1. Nhƣ vậy, bản chất của DNBHNT vẫn nhƣ các doanh nghiệp khác đƣợc thành lập theo Luật Doanh nghiệp, chỉ khác nhau về lĩnh vực kinh doanh. Bên cạnh đó, DNBHNT sẽ chịu sự kiểm soát riêng bởi pháp luật chuyên ngành về bảo hiểm nhƣ LKDBH, các nghị định hƣớng dẫn chuyên ngành. Về lĩnh vực kinh doanh, DNBHNT kinh doanh một loại dịch vụ khá đặc biệt, đó là bảo hiểm cho những sự kiện liên quan đến sự sống và cái chết của ngƣời đƣợc bảo hiểm và thu phí cho hoạt động dịch vụ này.
Thông qua việc thu phí, các DNBHNT sẽ có trách nhiệm chi trả tiền bảo hiểm cho ngƣời thụ hƣởng khi xảy ra các sự kiện bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm. Ngoài ra, hoạt động thu phí bảo hiểm cũng sẽ giúp cho DNBHNT tập trung trong tay đƣợc một nguồn vốn nhàn rỗi khá lớn từ ngƣời dân. Số tiền này không phải sử dụng ngay lập tức để chi trả mà chỉ khi nào có sự kiện bảo hiểm xảy ra thì DNBHNT mới phải chi trả số tiền này, do vậy, các DNBHNT có thêm một khoản tiền dùng cho việc đầu tƣ. Lúc này, DNBHNT sẽ đóng vai trò nhƣ một trung gian tài chính, có chức năng huy động các nguồn vốn nhàn rỗi từ ngƣời dân cho nền kinh tế.
Theo quy định của pháp luật, DNBHNT sẽ không đƣợc tự do kinh doanh tất cả các loại nghiệp vụ bảo hiểm, cụ thể: DNBHNT không đƣợc tiến hành đồng thời hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ, trừ trƣờng hợp DNBHNT kinh doanh 1 Khoản 5 Điều 3 Luật Kinh doanh bảo hiểm (Luật số 24/2000/QH10) ngày 09/12/2000 4 nghiệp vụ bảo hiểm sức khoẻ và bảo hiểm tai nạn con ngƣời bổ trợ cho BHNT2. Việc quy định này là cần thiết bởi hai loại hình kinh doanh bảo hiểm này khác biệt nhau về mức vốn pháp định, phƣơng pháp xác định biên khả năng thanh toán tối thiểu khi thực hiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm, các giới hạn, hình thức về đầu tƣ vốn3… Hiện tại, theo thống kê của Cục quản lý giám sát bảo hiểm, tại Việt Nam có 18 DNBHNT, trong đó chỉ có duy nhất Tổng công ty Bảo Việt Nhân thọ là doanh nghiệp Việt Nam, ngoài ra còn có 03 DNBH liên doanh là Công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ Vietcombank - Cardif (VCLI), Công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ BIDV MetLife (BIDV MetLife), Công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ MB Ageas (MB Ageas Life ), còn lại là các DNBHNT 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài4. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm của DNBHNT: Theo quy định pháp luật, kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của DNBH nhằm mục đích sinh lợi, theo đó DNBH chấp nhận rủi ro của ngƣời đƣợc bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để DNBH trả tiền bảo hiểm cho ngƣời thụ hƣởng hoặc bồi thƣờng cho ngƣời đƣợc bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.5 Tuy hoạt động kinh doanh BHNT đã xuất hiện từ lâu nhƣng vẫn còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau, chƣa có sự thống nhất về khái niệm BHNT. Cụ thể: Theo quy định pháp luật, BHNT là loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trƣờng hợp ngƣời đƣợc bảo hiểm sống hoặc chết6.
Từ khái niệm này, ta có thể hiểu là nếu ngƣời đƣợc bảo hiểm sống đến một thời điểm nhất định hoặc chết trong khoảng thời gian nào đó đã thỏa thuận trong hợp đồng thì DNBHNT phải chi trả tiền bảo hiểm cho ngƣời thụ hƣởng. Tuy nhiên, quy định trên chƣa phản ánh đƣợc đầy đủ bản chất của loại nghiệp vụ bảo hiểm này. Theo khái niệm của Trƣờng Đại học kinh tế quốc dân, BHNT đƣợc hiểu là những dịch vụ bảo hiểm liên quan đến những rủi ro gắn liền với tuổi thọ của con 2 Khoản 2 Điều 60 Luật Kinh doanh bảo hiểm (Luật số 24/2000/QH10) ngày 09/12/2000. 3 Khoản 1, 2 Điều 10, khoản 1 Điều 60, Điều 61, khoản 1, 2 Điều 62, khoản 1, 2 Điều 64 Nghị định 73/2016/NĐ-CP của Chính phủ ngày 01 tháng 07 năm 2016 quy định chi tiết thi hành luật kinh doanh bảo hiểm và luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật kinh doanh bảo hiểm (Nghị định 73/2016/NĐ-CP) 4 “Danh mục doanh nghiệp”, Cục quản lý giám sát bảo bảo hiểm, Bộ Tài chính, http://www.vn/webcenter/portal/cqlgsbh/r/m/tttt/dmdncnnn?_afrLoop=65408667896441295#!%40 %40%3F_afrLoop%3D65408667896441295%26_adf.ctrl-state%3D13ozw5su1d_381, truy cập ngày 25/3/2019 5 Khoản 1 Điều 3 Luật Kinh doanh bảo hiểm (Luật số 24/2000/QH10) ngày 09/12/2000 6 Khoản 12 Điều 3 Luật Kinh doanh bảo hiểm (Luật số 24/2000/QH10) ngày 09/12/2000 5 ngƣời.
BHNT cung ứng dịch vụ đảm bảo cho khách hàng trong trƣờng hợp rủi ro dẫn đến làm giảm hoặc mất đi một phần thu nhập cho gia đình. Nếu điều đó không xảy ra, BHNT đơn giản trở thành hình thức tiết kiệm7. Theo khái niệm này, các chức năng của BHNT đã đƣợc thể hiện một cách đầy đủ, vừa mang tính chất bảo hiểm các rủi ro vừa mang tính chất nhƣ một hình thức tiết kiệm. Ngoài ra, theo khái niệm của Viện Khoa học pháp lý Bộ Tƣ pháp: “BHNT là loại hình bảo hiểm mà trách nhiệm trả tiền bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ phát sinh khi có sự kiện do các bên thỏa thuận liên quan đến cái chết hoặc sự kiện tiếp tục sống của người được bảo hiểm trong thời gian định trước”8.
Nhƣ vậy, từ các khái niệm trên, có thể hiểu BHNT là một cách thức để phòng chống rủi ro vừa cũng là một hình thức tiết kiệm bằng việc đóng một khoản phí bảo hiểm cho DNBHNT và trên cơ sở đó, DNBHNT sẽ có trách nhiệm chi trả cho ngƣời thụ hƣởng một số tiền bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra nhƣ thỏa thuận trong hợp đồng hoặc DNBHNT sẽ trả lại số tiền bảo hiểm cộng với lãi suất nhƣ cam kết ban đầu khi hợp đồng bảo hiểm đáo hạn mà ngƣời đƣợc bảo hiểm vẫn còn sống đối với BHNT hỗn hợp. Theo quy định pháp luật, BHNT đƣợc chia ra nhiều loại, gồm: Bảo hiểm sinh kỳ: là nghiệp vụ bảo hiểm cho trƣờng hợp ngƣời đƣợc bảo hiểm sống đến một thời hạn nhất định, theo đó DNBH phải trả tiền bảo hiểm cho ngƣời thụ hƣởng, nếu ngƣời đƣợc bảo hiểm vẫn sống đến thời hạn đƣợc thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm9. Bảo hiểm tử kỳ: nghiệp vụ bảo hiểm cho trƣờng hợp ngƣời đƣợc bảo hiểm chết trong một thời hạn nhất định, theo đó DNBH phải trả tiền bảo hiểm cho ngƣời thụ hƣởng, nếu ngƣời đƣợc bảo hiểm chết trong thời hạn đƣợc thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm10. Bảo hiểm hỗn hợp: nghiệp vụ bảo hiểm kết hợp bảo hiểm sinh kỳ và bảo hiểm tử kỳ11.
Bảo hiểm trọn đời: nghiệp vụ bảo hiểm cho trƣờng hợp ngƣời đƣợc bảo hiểm chết vào bất kỳ thời điểm nào trong suốt cuộc đời của ngƣời đó12. 7 Trƣờng Đại học Kinh tế Quốc dân (2000), Giáo trình bảo hiểm, Nhà xuất bản thống kê Hà Nội, tr. 8 Viện Khoa học pháp lý Bộ Tƣ pháp (2006), Từ điển Luật học, Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa và Nhà xuất bản Tƣ pháp, tr.38 9 Khoản 13 Điều 3 Luật Kinh doanh bảo hiểm (Luật số 24/2000/QH10) ngày 09/12/2000 10 Khoản 14 Điều 3 Luật Kinh doanh bảo hiểm (Luật số 24/2000/QH10) ngày 09/12/2000 11 Khoản 15 Điều 3 Luật Kinh doanh bảo hiểm (Luật số 24/2000/QH10) ngày 09/12/2000 12 Khoản 16 Điều 3 Luật Kinh doanh bảo hiểm (Luật số 24/2000/QH10) ngày 09/12/2000 6 Bảo hiểm trả tiền định kỳ: nghiệp vụ bảo hiểm cho trƣờng hợp ngƣời đƣợc bảo hiểm sống đến một thời hạn nhất định; sau thời hạn đó DNBH phải trả tiền bảo hiểm định kỳ cho ngƣời thụ hƣởng theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm13. Bảo hiểm liên kết đầu tƣ: là một loại hình đặc biệt của BHNT, trong đó sau khi trừ đi chi phí quản lý và chi phí trả cho BHNT, phí bảo hiểm đƣợc sử dụng để mua các đơn vị đầu tƣ trong các quỹ liên kết.
Các quỹ này bao gồm nhiều loại tài sản đầu tƣ đƣợc quản lý nhằm mang lại lợi ích cho tất cả những ngƣời sở hữu các đơn vị đầu tƣ trong quỹ. Quyền lợi của các hợp đồng bảo hiểm thực tế là giá trị của các đơn vị đầu tƣ đó. Giá trị này không cố định, có thể tăng hoặc giảm phụ thuộc vào giá trị các tài sản đầu tƣ14. Các sản phẩm của loại bảo hiểm này đƣợc quy định cụ thể tại Thông tƣ 52/2016/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 21/3/2016 và Thông tƣ 135/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 15/8/2012.
Bảo hiểm hƣu trí: nghiệp vụ bảo hiểm cho trƣờng hợp ngƣời đƣợc bảo hiểm đạt đến độ tuổi xác định đƣợc DNBH trả tiền bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm15. Từ khái niệm và phân loại BHNT, hoạt động kinh doanh bảo hiểm của DNBHNT sẽ có những đặc điểm nhƣ sau: Bảo hiểm nhân thọ có thời gian lâu dài. Nếu các hợp đồng bảo hiểm tài sản hay trách nhiệm dân sự thƣờng có thời gian ngắn thì thời hạn của hợp đồng BHNT thƣờng là 5 năm trở lên. Sự khác biệt này là do đối tƣợng của BHNT là sự sống hoặc chết ngƣời đƣợc bảo hiểm, đồng thời thời gian dài đáp ứng mục đích tiết kiệm của bên mua bảo hiểm khi quyết định tham gia BHNT.
Có tính chất tiết kiệm. Ngoài mục đích bảo hiểm cho các rủi ro có thể xảy ra thì ngƣời tham gia bảo hiểm còn có thể xem việc tham gia BHNT nhƣ một hình thức gửi tiết kiệm.