Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CHIẾN LƯỢC QUỐC TẾ HÓA NHÂN DÂN TỆ CỦA TRUNG QUỐC 1.1 Cơ sở lý luận về quốc tế hóa một đồng tiền 1.1 Khái quát về đồng tiền quốc tế Tiền tệ của một quốc gia thường có 3 chức năng cơ bản, đó là phương tiện trao đổi/ thanh toán (means of payments), đơn vị định giá (unit of account) và phương tiện lưu trữ giá trị (store of value). Những chức năng này của tiền tệ không tách rời mà liên quan mật thiết với nhau. Thông thường, các quốc gia phát hành tiền tệ nhằm đáp ứng yêu cầu thanh toán, trao đổi trong nước mình. Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển của kinh tế thế giới, các hoạt động thương mại, đầu tư xuyên quốc gia ngày càng tăng, ngày càng có nhiều đồng tiền được sử dụng làm phương tiện trao đổi, đơn vị định giá hay phương tiện lưu trữ giá trị bên ngoài quốc gia mà đồng tiền đó được phát hành.
Mức độ sử dụng của những đồng tiền này không giống nhau. Có những đồng tiền được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới, nhưng có những đồng tiền chỉ được sử dụng giữa một vài quốc gia có chung biên giới, sử dụng theo các hiệp định được ký kết hoặc chỉ hạn chế ở một vài chức năng. Như vậy, không phải mọi đồng tiền được sử dụng bên ngoài quốc gia phát hành đều là đồng tiền quốc tế. Theo lý thuyết của Kiminori Matsuyama và Nobuhiro Kiyotaki (1991) trong “Toward a Theory of International Currency” một đồng tiền được xem là đồng tiền quốc tế chỉ khi thực hiện đầy đủ ba chức năng – Phương tiện trao đổi/thanh toán quốc tế, đơn vị hạch toán/ định giá trên phạm vi quốc tế, phương tiện cất trữ giá trị trên phạm vi quốc tế – ở cả hai cấp độ khác nhau, đối với giao dịch công và tư, nằm ngoài phạm vi quốc gia của đồng tiền đó.
Trên thế giới hiện có một số đồng tiền quốc tế như đồng Đô la Mỹ, Euro, Bảng Anh… là những đồng tiền mạnh, thể hiện được 3 chức năng cơ bản là phương tiện thanh toán quốc tế, định giá các giao dịch quốc tế và dự trữ ngoại hối, trong đó điển hình nhất là đồng Đôla Mỹ, thể hiện ở việc sử dụng rộng rãi trong định giá, thanh toán và vay mượn quốc tế.2 Các chức năng cơ bản của đồng tiền được quốc tế hóa Theo lý thuyết của Kiminori Matsuyama, Nobuhiro Kiyotaki (1991) trong “Toward a Theory of International Currency” đề cập ở trên và cũng theo nghiên cứu của M. Shahidul Islam & Omar Khaled MR Bashar (2012) trong “Internationalization of the Renminbi: Theory and Evidence”, đồng tiền của một quốc gia được quốc tế hóa khi được sử dụng rộng rãi bởi chính phủ và khu vực tư nhân (cả người định cư và không định cư) bên ngoài quốc gia đó như một phương tiện trao đổi/thanh toán, một đơn vị hạch toán/ định giá và một phương tiện cất trữ giá trị. Như vậy, đồng tiền quốc tế sẽ có 3 chức năng cơ bản: Phương tiện trao đổi/thanh toán quốc tế, đơn vị hạch toán/ định giá trên phạm vi quốc tế, phương tiện cất trữ giá trị trên phạm vi quốc tế. Là một phương tiện thanh toán, một đồng tiền quốc tế được sử dụng bởi người không cư trú (không định cư tại nước bản tệ) trong các giao dịch thương mại và vốn.
Người không cư trú sử dụng tiền tệ quốc tế làm phương tiện, tức là một giá trị trung gian trong các giao dịch giữa hai loại tiền tệ nhỏ hơn. Ví dụ điển hình như, các giao dịch giữa Bồ Đào Nha và Thái Lan được chia thành các giao dịch giữa đồng escudo/dollar và dollar/baht. Các cơ quan quản lý tiền tệ cũng sử dụng tiền tệ quốc tế như một phương tiện thanh toán, khi họ can thiệp vào thị trường ngoại hối. Với chức năng là một đơn vị định giá, một đồng tiền quốc tế được sử dụng để hạch toán, tức là định giá hàng hóa và tài sản, cũng như khi phát hành trái phiếu hoặc xác định một khoản vay ngân hàng.
Chức năng này khác với chức năng thanh toán, vì giá cả hàng hóa/ tài sản có thể được định giá bằng một loại tiền tệ nhưng thanh toán thì có thể bằng một loại tiền tệ khác. Chính quyền của các quốc gia cũng có thể sử dụng tiền tệ quốc tế như một đơn vị định giá, khi họ chốt tiền tệ của họ với đồng tiền đó. Với chức năng lưu trữ giá trị, một đồng tiền quốc tế được cả khu vực tư nhân và khu vực công của các nước sử dụng để duy trì giá trị tiết kiệm. Động cơ của các nhà đầu tư tư nhân là một sự cân bằng tối ưu giữa lợi nhuận thu về và sự đa dạng hóa rủi ro.
Động cơ của khu vực nhà nước thì khác nhau đối với các chế độ tỷ giá hối đoái khác nhau [52]. 9 Các chức năng của một đồng tiền cụ thể ở khu vực tư nhân và khu vực công có thể không giống nhau: một loại tiền tệ có thể được chọn làm phương tiện giao dịch trong khu vực tư nhân nhưng có thể ít được sử dụng cho các can thiệp công cộng trên thị trường ngoại hối. Phần lớn các giao dịch của một quốc gia có thể được hạch toán bằng một loại tiền tệ cụ thể, nhưng đôi khi loại tiền đó lại không được chọn làm một nguồn dự trữ tin cậy. Dự trữ chính thức sẽ được tính bằng đồng tiền quốc tế cụ thể chỉ khi các cơ quan quản lý tiền tệ muốn ổn định tỷ giá so với đồng tiền này.1: Các chức năng của một đồng tiền được quốc tế hóa Phạm vi, đối tượng sử dụng Chức năng Khu vực tư nhân Các chính phủ trên thế giới - Các giao dịch thương mại - Lưu thông tiền tệ ở nước (xuất nhập khẩu).
Phương tiện trao - Các giao dịch đầu tư (FDI, - Các giao dịch tài chính của đổi/thanh toán quốc FII) chính phủ (ví dụ ODA) tế - Các giao dịch tài chính - Hoán đổi tiền tệ* (SWAPS) của NHTW - Đồng tiền chủ chốt NHTW dùng để can thiệp - là đồng tiền được hạch - Được các nước gắn định 2. Đơn vị hạch toán/ toán (invoicing) trong các vào bản tệ định giá trên phạm giao dịch thương mại - Các NHTW đưa vào rổ tiền vi quốc tế - là đồng tiền được làm đơn vị tệ trong các sản phẩm tài chính - là đồng tiền thuộc SDR (trái phiếu, cổ phiếu) - là đồng tiền phát hành trái phiếu chính phủ nước ngoài - Tiền gửi xuyên biên giới Dự trữ quốc tế (của nước 3. Phương tiện cất - Chứng khoán xuyên biên khác) trữ giá trị trên phạm giới vi quốc tế - Được cất trữ (tiết kiệm) Nguồn: Tác giả tổng hợp và vẽ lại, tham khảo từ một số bài viết liên quan - [9] và [13] * Thỏa thuận hoán đổi tiền tệ là một công cụ tài chính quốc tế phái sinh. Thỏa thuận hoán đổi tiền tệ cho phép các bên tham gia có thể đồng thời bán một số lượng đồng tiền của nước mình và mua về một số lượng đồng tiền của nước đối tác.
Các chi tiết về lãi suất, tỷ giá, kỳ hạn thực hiện giao dịch được quy định cụ thể trong thỏa thuận hoán đổi tiền tệ. Thỏa thuận hoán đổi tiền tệ có thể được ký song phương hoặc đa phương; ở cấp độ quốc gia giữa các Ngân hàng trung ương hoặc ở cấp độ công ty, tổ chức. 10 Theo đó, để đánh giá một đồng tiền đã được coi là “đồng tiền quốc tế” chưa hay mức độ quốc tế hóa đồng tiền đó đến đâu - cụ thể ở đây là đồng NDT, sẽ phải xem xét trên cả 3 chức năng “tiền tệ quốc tế” của đồng tiền đó.2 Những nhân tố thúc đẩy Trung Quốc thực hiện QTH đồng NDT 1.1 Những lợi ích và rủi ro có thể của việc quốc tế hóa tiền tệ 1.1 Những lợi ích chủ yếu Đồng nội tệ của một nước trở thành đồng tiền quốc tế có thể đem lại nhiều lợi ích cho nước phát hành như: * Đối với các doanh nghiệp/ người dân của nước bản tệ Giảm chi phí giao dịch, giảm rủi ro tỷ giá. Khi đồng nội tệ của một quốc gia được quốc tế hóa, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu hay người dân của nước phát hành có thể thực hiện các giao dịch quốc tế bằng đồng nội tệ, từ đó giảm rủi ro tỷ giá, giảm nhẹ rủi ro thanh khoản và giảm chi phí giao dịch (do không phải mất phí chuyển đổi sang đồng ngoại tệ khác).
Bên cạnh đó, nhờ chi phí giảm, các giao dịch quốc tế gia tăng làm tăng thu nhập từ khu vực tài chính. * Đối với quốc gia và nền kinh tế nước bản tệ - Về kinh tế: + Tăng thu nhập từ khu vực tài chính, giúp thị trường tài chính phát triển sâu hơn, hiệu quả hơn. Do chi phí giảm và tăng khả năng thanh khoản nên các giao dịch quốc tế gia tăng, làm tăng thu nhập từ khu vực tài chính. Thị trường tài chính có thể phát triển hơn nhờ hoạt động phát hành trái phiếu và các nghiệp vụ arbitrage (nghiệp vụ kinh doanh chênh lệch giá).
+ Lợi ích từ phát hành tiền: Tạo điều kiện tăng nguồn thu cho nhà nước từ việc in tiền mới (Seigniorage) khi lưu hành ở nước ngoài. Khi chi phí in tiền thấp hơn giá trị danh nghĩa của đồng tiền, nước phát hành tiền sẽ có lợi bất cứ khi nào người dân nước ngoài cần đến đồng nôi tệ nước đó để trao đổi hàng hóa và dịch vụ. Vì vậy, việc tích lũy tiền tệ xuyên quốc gia này tạo ta lợi ích to lớn cho nền kinh tế. + Giảm chi phí vay, thu hút đầu tư gián tiếp: Việc người dân hoặc chính phủ nước ngoài có thể mua các trái phiếu của nước phát hành bằng chính đồng tiền nước đó sẽ làm tăng nhu cầu về các sản phẩm này, từ đó làm giảm lãi suất (lợi tức) mà 11 nước phát hành phải trả cho các trái phiếu này.
Nước phát hành vì vậy giảm được chi phí phải trả cho các khoản vay. Khi có nhiều nhà đầu tư cũng có nghĩa là thanh khoản của các sản phẩm này trên thị trường sẽ tốt hơn, dễ thu hút đầu tư gián tiếp hơn [12, tr. + Sự linh hoạt về kinh tế vĩ mô: Việc đồng nội tệ được sử dụng cả bên ngoài quốc gia phát hành sẽ làm giảm những hạn chế về cán cân thanh toán lên chính sách tài chính và tiền tệ. Nó cho phép một nước có khả năng thanh toán các khoản thâm hụt với bên ngoài bằng đồng tiền nước mình, làm giảm chi phí vay nợ, tăng khả năng theo đuổi các mục tiêu chính sách ở trong và ngoài nước.