Chương 1 đã trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu, lý do nghiên cứu được thực hiện cũng như mục tiêu mà nghiên cứu cần đạt được. Bên cạnh đó, chương này cũng nêu lên được đối tượng, phạm vi, phương pháp và ý nghĩa của nghiên cứu, kết cấu của luận văn. Cơ sở lý thuyết, một số nghiên cứu trước đây và mô hình nghiên cứu sẽ được trình bày trong chương 2. 123doc 7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 trình bày về cơ sở lý thuyết: Giới thiệu các khái niệm, lý thuyết liên quan đến quản trị tri thức, học tập trong tổ chức và mối quan hệ giữa 2 yếu tố này đến hiệu quả hoạt động của tổ chức, lược khảo các công trình nghiên cứu trước đây, từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu.
Khái niệm “Tri thức” Tri thức khá khác với dữ liệu và thông tin trong tự nhiên, mặc dù đôi khi người ta sử dụng ba thuật ngữ này thay cho nhau (Becerra-Fernandez, Gonzalez và Sabherwal, 2004). Dữ liệu: Dữ liệu bao gồm các sự kiện, kết quả từ các quan sát và khám phá và thực hiện các thí nghiệm. Đối với dữ liệu đơn lẻ, nó chỉ hiển thị số liệu thô hoặc các chỉ định mà bản thân nó không có nghĩa. Tuy nhiên, dữ liệu vẫn cần cho bất kỳ tổ chức nào.
Điều này rất quan trọng đối với người lao động và công ty bởi vì nó là nguyên liệu dùng để phân tích để tạo ra thông tin. Ví dụ, đơn đặt hàng chỉ là dữ liệu; Nó không có ý nghĩa cho bất cứ ai nếu nó không chuyển đổi sang những thứ khác có ý nghĩa. Mặc dù dữ liệu không có ý nghĩa hoặc mục tiêu, nhưng dễ nắm bắt, lưu trữ, chuyển giao và truyền đạt bằng điện tử hoặc các phương tiện khác (Davenport và Prusak, 1998; Becerra-Fernandez và cộng sự, 2004). Thông tin: Thông tin là một phần của dữ liệu.
Nó thường bao gồm việc chuyển đổi, phân loại và tổ chức dữ liệu thô để đạt được một chỉ dẫn có ý nghĩa hơn về các mẫu trong dữ liệu mà thông tin có ảnh hưởng đến quyết định hoặc hành vi của con người (Becerra-Fernandez và cộng sự, 2004). Ví dụ: Sau khi chuyển đơn hàng thành doanh số hàng ngày, báo cáo bán hàng hàng ngày có thể được sử dụng cho người quản lý để đưa ra quyết định phải làm gì tiếp theo. Tri thức: Becerra-Fernandez và cộng sự (2004) đánh giá kiến thức ở mức cao nhất trong hệ thống phân cấp với thông tin ở cấp trung và dữ liệu ở mức thấp nhất. 123doc 8 Theo quan điểm này, tri thức trích dẫn thông tin cho phép hành động và quyết định, hoặc thông tin có chỉ đạo.
Davenport và Prusak (1998, trang 5) đưa ra một định nghĩa khác về tri thức: “Tri thức là một tập hợp các trải nghiệm, giá trị, thông tin theo ngữ cảnh và chuyên sâu dùng để cung cấp khuôn khổ để đánh giá và kết hợp các kinh nghiệm và thông tin mới. Nó bắt nguồn và được áp dụng trong tâm trí của người biết. Trong các tổ chức, nó thường được ghi nhớ không chỉ trong các tài liệu hoặc kho lưu trữ mà còn trong các quy trình, thực tiễn và định mức của tổ chức”. Tri thức giúp sản xuất thông tin từ dữ liệu, thông tin có giá trị hoặc thông tin ít giá trị.
Do đó, tri thức cơ bản tương tự như thông tin và dữ liệu, mặc dù nó phong phú nhất và chuyên sâu nhất trong cả ba và do đó cũng có giá trị nhất. Khía cạnh của mối quan hệ giữa dữ liệu, thông tin và tri thức được thể hiện trong Hình 1 (Becerra-Fernandez và cộng sự, 2004). Kiến thức Giá trị Không Thấp Trung bình Cao Rất cao Dữ liệu Thông tin Hình 2. Mối quan hệ giữa dữ liệu, thông tin và tri thức (Becerra – Fernandez và cộng sự, 2004) Có nhiề u quan điểm tập trung vào sự khác biệt về chức năng giữa thông tin và kiến thức.
Nonaka (1994) lập luận rằng không giống như thông tin, kiến thức là về niềm tin, sự cam kết, quan điểm, ý định và hành động. Ông kết nối kiến thức trực tiếp đến giá trị công ty và cam kết của nhân viên. Davenport và Prusak (1998) làm mờ ranh giới rõ ràng của Nonaka giữa kiến thức và thông tin bằng cách định nghĩa nó như là một hỗn hợp của kinh nghiệm, giá trị và thông tin trong một ngữ cảnh (thông tin theo ngữ cảnh) và ý kiến chuyên gia (hiểu biết chuyên môn). Họ nhấn mạnh và cung cấp cơ sở cho việc đánh giá và thu thâ ̣p kinh nghiệm và các thông tin mới.
Sở hữu kiến thức có thể giúp tiết kiệm thời gian 123doc 9 cần thiết cho các nghiên cứu. Do đó, nếu các giải pháp thay thế cho một vấn đề đã được biết, không có giá tri thời ̣ gian bị mất đi trong tìm kiếm thông tin. Qua những khái niệm trên ta có thể hiểu tri thức là những kiến thức mà con người tạo ra, tích góp và lưu trữ qua thời gian. Tri thức có vai trò rất quan trọng trong hoạt động của con người, đó là dữ liệu mà con nguời lưu giữ để sống, để tồn tại và để phát triển.
Nhất là trong một tổ chức, tri thức không đơn thuần là kiến thức của một cá nhân mà nó còn tài sản của cả doanh nghiệp. Sáng tạo tri thức Tất cả các tổ chức có khả năng đều tạo ra và sử dụng tri thức. Khi các tổ chức này phải tương tác với môi trường của họ, họ nhận được thông tin, biến đổi thành tri thức và sử dụng để đưa ra quyết định dựa trên kinh nghiệm, giá trị và qui định nội bộ của mình. Nếu một tổ chức không có tri thức thì bản thân tổ chức đó không thể trở thành một tổ chức có tiềm lực mạnh.
Để tạo ra tri thức, Davenport và Prusak (1998) đưa ra năm cách tạo ra tri thức, đó là: Mua lại, nguồn lực cống hiến, hợp lực, thích ứng và mạng lưới kiến thức. Mua lại: Cách có hiệu quả nhất để có được kiến thức là mua nó. Một công ty có thể mua từ một công ty khác hoặc thuê các cá nhân có kiến thức. Các nguồn lực cống hiến: Một số công ty tạo ra kiến thức bằng cách thiết lập các đơn vị cho mục đích cụ thể.
Hợp lực: Là một phương pháp để tạo ra sự hợp lực mới bằng cách đưa người từ các phòng ban khác nhau làm việc cùng nhau trong một dự án. Sự thích ứng: Do những sản phẩm mới, công nghệ mới và những thay đổi về xã hội và kinh tế, công ty sẽ thay đổi và thích nghi để tồn tại trong kinh doanh. Mạng lưới: Mạng lưới không chính thức giữa mọi người có thể tạo ra kiến thức. Khi một công ty tạo ra tri thức, nó phải quan tâm đến quá trình làm việc tương tác.
Quá trình này bao gồm các bối cảnh khác nhau, cắt ngang ranh giới tổ chức, tìm kiếm kỹ năng, kiến thức và kinh nghiệm theo những cách mới. Có một giả định rằng, khi mọi người làm việc cùng nhau, họ có thể tạo ra nhiều kết quả sáng tạo hơn so với khi họ làm việc cá nhân. Khó có thể thiết lập làm việc theo nhóm hiệu quả vì mọi người đến từ các nguồn gốc khác nhau và có cơ sở tri thức khác nhau. 123doc 10 Làm việc theo nhóm là một yếu tố quan trọng để tạo ra tri thức với sự hiểu biết lẫn nhau về kiến thức sâu ngầm dựa trên kinh nghiệm chia sẻ với nhau trong một thời gian dài.
Tri thức ngầm là tri thức có trong đầu con người và khó có thể giải thích hay giao tiếp với người khác. Đối với tri thức hiện, nó là tri thức có thể được thể hiện dưới dạng văn bản hoặc nói. Tri thức rõ ràng rất dễ giải thích và giao tiếp. Quan hệ cá nhân tốt là cần thiết để chia sẻ tri thức ngầm (Newell và cộng sự, 2002).
Mặc dù tri thức khác nhau từ các nguồn khác nhau có xu hướng tạo ra xung đột ý tưởng, xung đột này có thể tạo ra sự sáng tạo. Sáng tạo này sẽ được xây dựng khi các cá nhân làm việc cùng nhau và giao tiếp với nhau. Nó không chỉ là những kỹ năng xã hội làm cho người ta hiểu nhau mà còn phụ thuộc vào các kỹ năng nhận thức giúp họ có thể hiểu được lẫn nhau (Leonard-Barton,1995). Hoạch định tri thức Phương pháp này là làm cho tri thức có thể tiếp cận được cho bất cứ ai muốn có.
Quá trình này sẽ chuyển đổi tri thức thành một mã để làm cho nó có cấu trúc, rõ ràng, có thể chuyển nhượng và dễ hiểu nhất có thể. Mỗi mã có các giá trị và giới hạn cụ thể riêng và chúng có thể được sử dụng đơn hoặc kết hợp. Các công nghệ mới có vai trò quan trọng trong việc mã hoá tri thức và tạo triển vọng cho các hoạt động này (Davenport và Prusak, 1998). Davenport và Prusak (1998) cũng đưa ra bốn quy tắc để các công ty tuân theo khi họ muốn mã hoá kiến thức: 1.
Các nhà quản lý phải xác định mục tiêu kinh doanh mà tri thức được mã hoá sẽ cung cấp. Người quản lý có thể chỉ định tri thức tồn tại dưới nhiều hình thức để đạt được những mục tiêu đó. Giá trị và tính phù hợp của tri thức phải được đánh giá bởi các nhà quản lý tri thức. Xác định phương tiện thích hợp để hệ thống hóa và phân loại.
123doc 11 Chuyển giao tri thức Tri thức được chuyển giao một cách tự nhiên ở mọi tổ chức dù quá trình đã được quản lý hay không. Ví dụ, khi một nhân viên hỏi nhân viên cấp cao về nhu cầu của một khách hàng cụ thể, họ đang trao đổi kiến thức. Rất khó để chuyển giao kiến thức ngầm từ nguồn lực tạo ra nó cho các bộ phận khác của công ty. Công ty nên sử dụng sự chuyển giao tri thức phù hợp với văn hoá tổ chức.
Davenport và Prusak (1998) khuyến cáo rằng, công ty nên khuyến khích chia sẻ kiến thức giữa các đơn vị kinh doanh bằng cách tạo ra các địa điểm và tạo cơ hội cho nhân viên tương tác chính thức. Việc chuyển giao kiến thức cần được hỗ trợ trong các cuộc họp cá nhân ngoài các hình thức có cấu trúc được đề cập ở trên. Thông thường, để chuyển giao kiến thức ngầm, nó đòi hỏi sự liên hệ cá nhân mạnh mẽ. Kiến thức phù hợp phải được lưu giữ trong các văn bản hoặc được mô tả trong các bài báo và cơ sở dữ liệu và được chuyển tải chính xác.