Chương 1: Những vấn đề cơ bản về quản trị rủi ro trong cho vay thương mại tại các Ngân hàng thương mại. - Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro trong cho vay thương mại tại Ngân hàng thương mại TNHH MTV Dầu khí Toàn Cầu. - Chương 3: Định hướng quản trị rủi ro và những bài học kinh nghiệm về quản trị rủi ro trong cho vay thương mại tại Ngân hàng thương mại TNHH MTV Dầu khí Toàn Cầu. 6 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG CHO VAY THƢƠNG MẠI TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Rủi ro trong cho vay thƣơng mại và sự cần thiết phải đo lƣờng rủi ro trong cho vay thƣơng mại tại các NHTM 1. Các loại rủi ro trong cho vay thương mại 1. Cho vay thương mại Cho vay là một phần quan trọng của hoạt động sử dụng vốn, được hình thành sớm ngay những buổi đầu khi ngân hàng thành lập, có vai trò chuyển tiền tiết kiệm thành đầu tư và là hoạt động chủ yếu mang lại lợi nhuận cho các ngân hàng. Có nhiều định nghĩa khác nhau về hoạt động cho vay, tuy nhiên hiện nay định nghĩa hoạt động cho vay tại Việt Nam được các ngân hàng áp dụng thống nhất theo Quyết định 1627/2001-QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc ngân hàng về việc ban hành Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng.
Theo đó “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” [4]. Trong cơ cấu cho vay của các NHTM, cho vay thương mại là hình thức cho vay chiếm tỷ trọng lớn và có vai trò quan trọng trong việc phát triển dư nợ cho vay của các ngân hàng. Cho vay thương mại được hiểu là một hình thức cho vay trong đó khoản tiền để sử dụng vào hoạt động thương mại như mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, xúc tiến thương mại trong thời gian nhất định theo nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Đối tượng cho vay thương mại là các doanh nghiệp, cá nhân có đăng ký hộ kinh doanh.
Đặc điểm của cho vay thương mại - Mục đích sử dụng vốn của việc cho vay thương mại là vào các hoạt động thương mại nên cho vay thương mại có các đặc điểm riêng biệt so với các hoạt động cho vay khác như sau: 7 - Cho vay thương mại để bổ sung vốn lưu động như mua hàng hóa đầu vào, thanh toán lương, tiền thuê máy móc thiết bị… Cho vay thương mại ngắn hạn giúp các cá nhân, doanh nghiệp bổ sung vốn lưu động kinh doanh thông thường. Cho vay thương mại trung hạn để bổ sung vốn lưu động để mở rộng hoạt động kinh doanh hoặc bổ sung vốn lưu động thiếu hụt do khách hàng bị mất cân đối tài chính vì đã sử dụng nguồn vốn lưu động ngắn hạn đầu vào các khoản mục dài hạn như đầu tư tài sản cố định, góp vốn dài hạn.và phát sinh nhu cầu cân đối lại nguồn vốn. - Giới hạn cho vay trong cho vay thương mại đối với mỗi khách hàng rất đa dạng, phụ thuộc vào phương án vay vốn và quy mô hoạt động của khách hàng nhưng nhìn chung số tiền cho vay đối với cho vay thương mại thương mại thường lớn hơn cho vay tiêu dùng và nhỏ hơn cho vay dự án đầu tư. - Vòng quay vốn lưu động của các khách hàng kinh doanh thương mại nhanh hơn so với vòng quay vốn lưu động trong lĩnh vực sản xuất, xây dựng… nên thời gian cho vay đối với một món giải ngân trong cho vay thương mại thường ngắn hơn thời gian cho vay trong các lĩnh vực khác.
Các hình thức cho vay thương mại rất đa dạng. Tùy theo các tiêu chí khác nhau mà cho vay thương mại được phân loại như sau: Dựa trên tiêu chí thời hạn cho vay: cho vay thương mại gồm cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn. Cho vay ngắn là các khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng. Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 12 đến 60 tháng.
Nguồn tiền để trả nợ trong cho vay ngắn hạn là từ doanh thu và trong cho vay trung hạn nguồn tiền để trả nợ là từ khấu hao và lợi nhuận. Dựa trên tiêu chí mức độ tín nhiệm của khách hàng: cho vay thương mại gồm cho vay có bảo đảm bằng tài sản và cho vay không có bảo đảm bằng tài sản. Cho vay có bảo đảm bằng tài sản là việc cho vay mà khách hàng phải thế chấp hay cầm cố tài sản của bên vay hoặc bên thứ ba. Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản là việc cho vay vốn của ngân hàng dựa trên uy tín, tình hình tài chính của khách hàng mà không có TSĐB thế chấp, cầm cố.
Hình thức cho vay không có bảo đảm 8 bằng tài sản thường chỉ áp dụng với một số ít khách hàng có uy tín và quan hệ tín dụng lâu năm với ngân hàng. Dựa trên phương thức cho vay: cho vay gồm cho vay theo hạn mức và cho vay từng lần. Trong cho vay theo hạn mức khách hàng và ngân hàng thỏa thuận hạn mức cho vay tối đa duy trì trong thời gian nhất định, trong thời gian này khách hàng có thể giải ngân và trả nợ nhiều lần nhưng phải đảm bảo tổng số tiền khách hàng vay tại một thời điểm không được vượt hạn mức quy định ban đầu. Cho vay từng lần là phương thức cho vay ngân hàng dựa vào phương án kinh doanh cụ thể của khách hàng để cho vay.
Phương thức cho vay này thường được áp dụng với khách hàng không có nhu cầu vay vốn thường xuyên và khách hàng chỉ được giải ngân một lần toàn bộ số tiền vay. Các loại rủi ro trong cho vay thương mại Trong hoạt động của các ngân hàng có thể xảy ra rất nhiều rủi ro gồm rủi ro cho vay, rủi ro cấp bảo lãnh, rủi ro lãi suất, rủi ro hối đoái, rủi ro thanh khoản. Tuy nhiên nghiệp vụ cho vay là nghiệp vụ cơ bản, chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt động của ngân hàng nên rủi ro cho vay cũng thường nhiều hơn và được quan tâm hơn cả. Rủi ro cho vay có thể được hiểu giống như rủi ro tín dụng.
Theo thông tư số 02/2013/TT-NHNN “Rủi ro tín dung trong ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết” [5]. Dựa trên cách hiểu về rủi ro, rủi ro cho vay thương mại gồm rủi ro đọng vốn và rủi ro mất vốn. Rủi ro đọng vốn là rủi ro do khách hàng không trả nợ bao gồm nợ gốc và nợ lãi trễ hạn. Rủi ro mất vốn là rủi ro khách hàng không còn khả năng trả nợ và ngân hàng phải xử lý TSĐB để thu hồi nợ vay.
Trên cơ sở mục đích nghiên cứu quản trị rủi ro, luận văn phân chia rủi ro theo nguồn gốc phát sinh của rủi bao gồm rủi ro từ phía khách hàng và rủi ro từ phía ngân hàng. Các rủi ro này có thể do yếu tố khách quan hay yếu tố chủ quan. 9 - Về phía khách hàng nguyên nhân gây ra rủi ro liên quan đến trình độ quản lý, thiện chí trả nợ, đạo đức người vay hay có thể do môi trường kinh doanh thay đổi bất ngờ, những thay đổi về môi trường pháp lý làm ảnh hưởng đến hoạt động của khách hàng. - Về phía ngân hàng, rủi ro cho vay bao gồm rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục cho vay.
Rủi ro mất vốn Rủi ro giao Rủi ro danh dịch mục Rủi ro tập Rủi ro xét Rủi ro kiểm Rủi ro bảo Rủi ro cá trung cho duyệt soát đảm biệt vay Hình 1.1: Các bộ phận của rủi ro tín dụng [3, tr613] - Rủi ro giao dịch mang tính cá biệt, phát sinh do sai xót ở khâu đánh giá, xét duyệt cho vay hay do yếu kém trong việc kiểm soát theo dõi khoản vay, khâu bảo đảm liên quan đến chính sách cho vay quá nới lỏng hoặc quá chặt và hợp đồng cho vay không chặt chẽ. - Rủi ro danh mục liên quan đến danh mục tín dụng của ngân hàng. Rủi ro xảy ra do những hạn chế trong quá trình quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, liên quan đến rủi ro trong từng loại cho vay hoặc việc cho vay quá tập trung, không đa dạng hóa cho vay. Ảnh hưởng của rủi ro trong cho vay thương mại tới hoạt động kinh doanh của NHTM Rủi ro là yếu tố không thể tránh trong hoạt động cho vay nói chung và hoạt động cho vay thương mại nói riêng.
Rủi ro gây ra những tác động trực tiếp đến hoạt động của ngân hàng được thể hiện trên các phương diện sau: 10 - Rủi ro trong cho vay thương mại làm giảm lợi nhuận của ngân hàng. Khi rủi ro tín dụng xảy ra, ngân hàng có khả năng không thu hồi được vốn và lãi cho vay trong khi vẫn phải trả chi phí huy động vốn và mất các cơ hội đầu tư khác… Ngoài ra ngân hàng còn mất các chi phí khác như chi phí quản lý khoản vay, chi phí thu hồi, trích lập dự phòng rủi ro… Điều này làm cho lợi nhuận của ngân hàng bị suy giảm, hiệu quả hoạt động của ngân hàng thấp. - Rủi ro trong cho vay thương mại ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thanh toán của ngân hàng. Nguồn vốn sử dụng cho vay của ngân hàng chính là nguồn huy động từ dân cư, các tổ chức kinh tế.
Việc không thu hồi hoặc chậm thu hồi vốn và lãi của ngân hàng làm hạn chế khả năng thanh toán của ngân hàng chi trả lãi và gốc của các khoản huy động. - Rủi ro trong cho vay thương mại làm ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng. Rủi ro tín dụng ảnh hưởng trực tiếp đến chỉ số nợ quá hạn của ngân hàng. Hiện nay chỉ số nợ quá hạn là một trong những tiêu chí quan trọng để xếp hạng tín dụng của các ngân hàng.
Các ngân hàng có chỉ số nợ ở mức cho phép, xếp hạng tín dụng tốt sẽ được các ngân hàng nước ngoài, các khách hàng tín nhiệm trong việc gửi tiền, vay tiền cũng như sử dụng các dịch vụ tài chính khác của ngân hàng.