Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại - Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn - Chương 3: Các giải pháp nhằm hoàn thiện quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm về rủi ro tín dụng Theo định nghĩa của Ủy ban Basel về các vấn đề quốc tế (BCBS): “Rủi ro tín dụng là rủi ro hoặc sự mất mát do người đi vay hoặc đối tác gây ra”.
“Rủi ro là sự không chắc chắn về tổn thất”. Ở Việt Nam trong từ điển kinh tế học hiện đại, rủi ro được định nghĩa: Rủi ro là hoàn cảnh trong đó một sự kiện xảy ra với một xác suất nhất định hoặc trong trường hợp quy mô của sự kiện đó có một phân phối xác suất. Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về RRTD, tuy nhiên các quan điểm đó đều thể hiện cùng một bản chất: RRTD là khả năng xảy ra những thiệt hại về mặt kinh tế mà NHTM phải gánh chịu do khách hàng vay vốn thanh toán nợ không đúng hạn hoặc không hoàn trả được nợ vay (cả gốc và lãi). Theo Khoản 1, Điều 3 Thông tư số 02/2013/TT-NHNN lại định nghĩa như sau: “RRTD là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
Như vậy, có thể hiểu RRTD là những tổn thất tiềm năng có thể xảy ra trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, do khách hàng vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ (bao gồm lãi vay và gốc) hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng như đã cam kết trong hợp đồng. RRTD không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay, mà còn bao gồm nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng khác của ngân hàng như bảo lãnh, cam kết, chấp thuận tài trợ thương mại, cho vay ở thị trường liên ngân hàng, tín dụng thuê mua, đồng tài trợ dự án. Đặc điểm rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng bao gồm 4 đặc điểm chính như sau: 13 Rủi ro tín dụng có tác động rất lớn, gây tổn thất nghiêm trọng đối với ngân hàng. Thậm chí, nếu rủi ro tín dụng không được khống chế và khắc phục một cách hiệu quả nó còn có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế của một quốc gia, sự phát triển của một đất nước.
Rủi ro tín dụng có thể xảy ra ở nhiều mảng, nhiều lĩnh vực khác nhau trong hoạt động tín dụng ngân hàng bao gồm bảo lãnh, tài trợ thương mại, chứng khoán,…Nhìn chung, các hoạt động tín dụng có quy mô càng rộng, có khả năng đem lại nguồn lợi nhuận cao thì càng ẩn chứa nhiều rủi ro. Rủi ro tín dụng sẽ dẫn đến tổn thất tài chính tức là giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn. Hoạt động quản lý rủi ro là việc ngân hàng tác động và điều chỉnh các hoạt động tín dụng nhằm ngăn chặn và hạn chế tối đa những ảnh hưởng xấu đến nguồn tiền. Việc làm này được thực hiện bởi nhiều công cụ khác nhau từ công cụ rà soát đến công cụ quản lý cũng như hệ thống cán bộ nhân viên trong ngân hàng.
Phân loại rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng được tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, trong đó tùy vào từng mục đích quản lý mà người ta sẽ chia chúng thành những loại tương ứng. Căn cứ theo nguyên nhân phát sinh rủi ro ❖ Rủi ro giao dịch: Là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có ba bộ phận: - Rủi ro lựa chọn là rủi ro liên quan đến quá trình đánh giá phân tích tín dụng khi ngân hàng lựa chọn phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay; - Rủi ro bảo đảm phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại TSĐB, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên trị giá của TSĐB; - Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề. 14 ❖ Rủi ro danh mục: Là rủi ro phát sinh do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay kém hiệu quả của ngân hàng, bao gồm rủi ro nội tại và rủi ro tập trung: - Rủi ro nội tại: Xuất phát từ các yếu tố, đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế.
Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của Khách hàng vay; - Rủi ro tập trung: Khi ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số Khách hàng; cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế, hoặc trong cùng một vùng vị trí địa lý nhất định, cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao. ❖ Rủi ro tác nghiệp: là nguy cơ tổn thất trực tiếp hoặc gián tiếp do cán bộ ngân hàng, quá trình xử lý và hệ thống nội bộ không đầy đủ hoặc không hoạt động hoặc do các sự kiện bên ngoài tác động vào hoạt động ngân hàng. Căn cứ theo khả năng trả nợ của khách hàng ❖ Rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn: Khi thiết lập mối quan hệ tín dụng, ngân hàng và khách hàng phải quy ước về khoản thời gian hoàn trả nợ vay. Tuy nhiên, đến thời hạn quy ước nhưng ngân hàng vẫn chưa thu hồi được vốn vay.
❖ Rủi ro do mất khả năng chi trả: Là rủi ro xảy ra trong trường hợp doanh nghiệp đi vay mất khả năng trả nợ, ngân hàng phải thanh lý TSĐB của doanh nghiệp để thu nợ. ❖ Rủi ro tín dụng không giới hạn ở hoạt động cho vay: Bao gồm các hoạt động khác mang tính chất tín dụng của ngân hàng như bảo lãnh, cam kết, chấp thuận tài trợ thương mại, cho vay thị trường liên ngân hàng, tín dụng thuê mua, đồng tài trợ… 15 RỦI RO TÍN DỤNG Nguyên nhân phát sinh Khả năng trả nợ Rủi ro tác Rủi ro danh Rủi ro đọng vốn Rủi ro giao dịch nghiệp mục Rủi ro mất khả năng chi trả Rủi ro lựa Rủi ro bảo Rủi ro Rủi ro nội Rủi ro tập chọn đảm nghiệp vụ tại trung Rủi ro không giới hạn ở hoạt động cho vay Sơ đồ 1. 1: Phân loại rủi ro tín dụng (Nguồn: Nguyễn Văn Tiến, 2013) 1. Biểu hiện rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng ẩn chứa trong những khoản vay có vấn đề và biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau.
Dưới đây là một số dấu hiệu cơ bản giúp chúng ta nhận biết, phán đoán rủi ro tín dụng có thể xảy ra, từ đó sớm có những biện pháp ngăn chặn rủi ro kịp thời: 1. Nhóm dấu hiệu phát sinh từ phía khách hàng - Nhóm dấu hiệu liên quan đến mối quan hệ với Ngân hàng: có thể phát hiện dấu hiệu rủi ro thông qua các hành vi ứng xử của khách hàng như: • Trì hoãn hoặc gây khó khăn cho Ngân hàng trong quá trình kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất tình hình sử dụng vốn vay, tình hình tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng mà không có sự giải thích minh bạch, thuyết phục. • Chậm gửi hoặc trì hoãn gửi các báo cáo tài chính theo yêu cầu của Ngân hàng. Không có báo cáo hay dự toán về lưu chuyển tiền tệ.
• Mức độ vay thường xuyên gia tăng, yêu cầu các khoản vay vượt quá nhu cầu dự kiến, tài sản đảm bảo không đủ tiêu chuẩn, giá trị tài sản bị giảm sút so với định giá khi cho vay. 16 • Khách hàng trông chờ vào nguồn thu nhập bất thường để đáp ứng nghĩa vụ thanh toán, tìm kiếm sự tài trợ nguồn vốn lưu động từ nhiều nguồn khác nhau. Sử dụng nguồn tài trợ ngắn hạn cho hoạt động đầu tư dài hạn. • Đề nghị gia hạn, điều chỉnh kỳ hạn nợ nhiều lần không rõ lý do hoặc thiếu căn cứ thuyết phục.
• Sự sụt giảm bất thường số dư tài khoản tiền gửi mở tại Ngân hàng, xuất hiện những thay đổi bất thường ngoài dự kiến và không giải thích được trong tốc độ và tổng mức lưu chuyển tiền gửi thanh toán của Ngân hàng. Chậm thanh toán các khoản lãi đến hạn, thanh toán các khoản nợ gốc không đầy đủ, đúng hạn, xuất hiện nợ quá hạn, nợ xấu, do khách hàng không có khả năng hoàn trả, hoặc khách hàng không muốn trả nợ. Nhóm dấu hiệu liên quan đến phương pháp quản lý, tình hình tài chính, và hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng: Nhóm dấu hiệu này có liên quan trực tiếp đến chất lượng các khoản tín dụng, nhưng tốc độ chậm hơn. Các dấu hiệu này xuất phát từ chính hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng và không dễ nhận diện nếu thiếu sự quản lý chặt chẽ, sâu sát của Ngân hàng.
Các dấu hiệu cụ thể là: có chênh lệch lớn giữa doanh thu hay dòng tiền thực tế so với mức dự kiến khi khách hàng đề nghị cấp tín dụng, những thay đổi bất thường trong cơ cấu vốn, tỷ lệ thanh khoản hay mức độ hoạt động của khách hàng, xuất hiện ngày càng nhiều các chi phí bất hợp lý như gia tăng đột biến chi phí quảng cáo, tiếp khách…thay đổi thường xuyên Ban điều hành, xuất hiện bất đồng, mâu thuẫn trong quản trị điều hành, tranh chấp trong quá trình quản lý… 1. Nhóm dấu hiệu xuất phát từ phía Ngân hàng Có thể nhận thấy dấu hiệu rủi ro từ chính Ngân hàng, cụ thể: • Sự đánh giá và phân loại không chính xác về mức độ rủi ro của khách hàng; cấp tín dụng dựa trên những cam kết không chắc chắn và thiếu tính đảm bảo. • Tốc độ tăng trưởng tín dụng của Ngân hàng quá nhanh, vượt quá khả năng và năng lực kiểm soát cũng như nguồn vốn của Ngân hàng. Cho vay dựa trên sự kiện bất thường có thể xảy ra, chẳng hạn như sáp nhập, thay đổi địa vị pháp lý từ chi nhánh lên công ty con hạch toán độc lập.