Chương 1: Rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng thƣơng mại Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Xây DựngViệt Nam Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Xây Dựng Việt Nam. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI Giới thiệu chƣơng 1 Chƣơng 1 của đề tài giới thiệu tổng quan về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thƣơng mại; đề cập chi tiết đến quá trình quản trị rủi ro tín dụng qua các bƣớc cơ bản: Xây dựng chiến lƣợc rủi ro tín dụng–Tổ chức thực hiện quản trị rủi ro tín dụng – Lãnh đạo việc thực hiện quản trị rủi ro tín dụng và giám sát rủi ro tín dụng.3 RỦI RO TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 1.1 Khái niệm rủi ro và rủi ro tín dụng ngân hàng Rủi ro trong hoạt động ngân hàng là những biến cố không mong đợi khi xảy ra dẫn đến tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành đƣợc một nghiệp vụ tài chính nhất định. Trong các hoạt động kinh doanh của NHTM, tín dụng là hoạt động kinh doanh mang lại nguồn lợi nhuận chủ yếu của ngân hàng nhƣng đồng thời cũng là nghiệp vụ tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất.Volker, Cựu Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) cho rằng: “Nếu ngân hàng không có những khoản vay tồi thì đó không phải là hoạt động kinh doanh”. Các thống kê và nghiên cứu cho thấy rủi ro tín dụng chiếm từ 60% đến 70% trong tổng rủi ro của hoạt động ngân hàng.
Kinh doanh ngân hàng gắn liền với rủi ro, theo đuổi lợi nhuận với rủi ro chấp nhận đƣợc là bản chất của kinh doanh ngân hàng. Có nhiều định nghĩa khác nhau về rủi ro tín dụng: Trong tài liệu “Financial Institutions Management – A Modern Perpective”, A.Lange định nghĩa rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các nguồn thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể đƣợc thực hiện đầy đủ về cả số lƣợng và thời hạn. Theo Henie Van Greuning – Sonjabrajovic (1999), rủi ro tín dụng đƣợc định nghĩa là nguy cơ mà ngƣời đi vay không thể chi trả tiền lãi hoặc hoàn trả vốn gốc so LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng, đây là thuộc tính vốn có của hoạt động ngân hàng. Rủi ro tín dụng tức là việc chi trả bị trì hoãn, hoặc là không chi trả đƣợc toàn bộ.
Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và ảnh hƣởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng. Theo khoản 1 Điều 3 trong Thông tƣ 02/2013/TT-NHNN Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phƣơng pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài ban hành ngày 21/01/2013 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Rủi ro tín dụng có thể hiểu một cách đơn giản là khả năng trong tƣơng lai ngƣời đi vay không thực hiện đúng các điều khoản trong hợp đồng tín dụng nhƣ đã ký kết với ngân hàng. Nhƣ vậy, rủi ro tín dụng là khả năng khách hàng vay vốn ngân hàng không thanh toán đƣợc tiền lãi hoặc vốn gốc hoặc cả hai.
Rủi ro tín dụng khi xảy ra sẽ làm giảm thu nhập ròng, tổn thất tài chính, làm giảm giá trị thị trƣờng vốn và nghiêm trọng hơn là dẫn đến thua lỗ hoặc phá sản ngân hàng.2 Phân loại rủi ro tín dụng ngân hàng 1.1 Phân loại theo nguồn gốc hình thành rủi ro tín dụng Căn cứ vào nguồn gốc hình thành rủi ro, rủi ro tín dụng đƣợc phân chia thành các loại sau: Rủi ro giao dịch: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có ba bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ. Rủi ro lựa chọn là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phƣơng án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Rủi ro bảo đảm phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo nhƣ các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên trị giá của tài sản đảm bảo.
Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề. Rủi ro danh mục: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, đƣợc phân chia thành hai loại là rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn.
Rủi ro tập trung là trƣờng hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.2 Phân loại theo phạm vi tác động Rủi ro hệ thống trong hoạt động tín dụng ngân hàng: là rủi ro tác động đến toàn bộ hoặc hầu hết các khoản vay của ngân hàng. Sự bấp bênh của môi trƣờng kinh tế nói chung nhƣ sự sụt giảm GDP, biến động lãi suất, tốc độ lạm phát thay đổi. là những minh chứng cho rủi ro hệ thống, những biến đổi này tác động đến khả năng trả nợ của các khách hàng. Trong rủi ro hệ thống trƣớc hết phải kể đến rủi ro thị trƣờng.
Rủi ro thị trƣờng xuất hiện do phản ứng của các nhà kinh doanh đối với các hiện tƣợng trên thị trƣờng. Chẳng hạn nhƣ sự thiếu quy hoạch phân bổ đầu tƣ một cách hợp lý, công khai đã dẫn đến khủng hoảng thừa về đầu tƣ trong một số ngành. Nền kinh tế thị trƣờng tất yếu sẽ dẫn đến cạnh tranh, các nhà kinh doanh sẽ tìm kiếm ngành nào có lợi nhất để đầu tƣ và sẽ rời bỏ những ngành không mang lại lợi nhuận, và do đó dẫn đến sự chuyển dịch vốn từ ngành này sang ngành khác. Nếu để sự cạnh tranh phát LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com triển một cách tự phát mà không có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nƣớc sẽ dẫn đến sự gia tăng quá đáng vốn đầu tƣ ở một số ngành, gây khủng hoảng thừa, lãng phí tài nguyên quốc gia.
Kế đến là rủi ro về lãi suất tín dụng: Rủi ro này xảy ra khi sự biến đổi của lãi suất thay đổi không theo nhƣ dự tính của ngân hàng. Sự thay đổi lãi suất thị trƣờng có thể tác động mạnh đến thu nhập và chi phí của ngân hàng. Rủi ro lãi suất có thể biểu hiện dƣới dạng rủi ro xác định lại lãi suất, rủi ro đƣờng cong lãi suất, rủi ro tƣơng quan lãi suất. Rủi ro xác định lại lãi suất xảy ra khi có sự khác biệt giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động.
Trong trƣờng hợp lãi suất cho vay cố định trong suốt thời gian vay mà lãi suất huy động lại phụ thuộc vào biến động thị trƣờng. Khi lãi suất huy động tức là giá vốn đầu vào biến động theo chiều hƣớng tăng mà lãi suất đầu ra cố định hoặc cho dù có thay đổi nhƣng không theo ý ngân hàng thì ngân hàng gánh chịu thiệt hại về lợi nhuận. Rủi ro đƣờng cong lãi suất phát sinh khi có sự thay đổi về độ dốc và hình dạng của đƣờng cong lãi suất. Đây chính là rủi ro về mặt kỳ hạn của các khoản tín dụng.
Ví dụ: ngân hàng cấp tín dụng 10 năm nhƣng lại dùng nguồn vốn trung hạn 5 năm để tài trợ thì ngân hàng sẽ thua lỗ nếu có sự gia tăng không cân xứng của lãi suất với thời hạn ngắn hơn. Rủi ro tƣơng quan lãi suất: Phát sinh khi có một sự tƣơng quan không hoàn hảo trong sự điều chỉnh của lãi suất thu đƣợc và lãi suất phải trả trên các công cụ khác nhau mà đáng lẽ ra có các đặc điểm tƣơng tự về xác định lại lãi suất. Ví dụ: một khoản cho vay 1 năm bằng đô la Mỹ đƣợc xác định lại lãi suất hàng tháng và tham chiếu lãi suất Sibor hoặc Libor. Nếu khoản vay đó lại đƣợc tài trợ bằng nguồn vốn tham chiếu lãi suất tín phiếu kho bạc của Hoa Kỳ với thời hạn 1 tháng, ai có thể hy vọng rằng hai loại lãi suất này sẽ thay đổi song song với nhau (nhƣ vẫn thƣờng thấy).
Tuy nhiên, nếu mối quan hệ của hai loại lãi suất này lại ngoài dự kiến, ngân hàng có thể phải gánh chịu một khoản lỗ tiềm năng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Rủi ro phi hệ thống trong hoạt động tín dụng ngân hàng: là rủi ro chỉ tác động đến một loại tài sản hoặc một nhóm tài sản, nghĩa là rủi ro này chỉ liên quan đến một loại khoản vay cụ thể nào đó. Rủi ro phi hệ thống bao gồm rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính. Trong quá trình kinh doanh, định mức thực tế không đạt đƣợc nhƣ kế hoạch gọi là rủi ro kinh doanh, chẳng hạn lợi nhuận trong năm tài chính thấp hơn mức dự kiến.
Rủi ro kinh doanh đƣợc cấu thành bởi yếu tố bên ngoài và yếu tố nội tại bên trong ngân hàng. Rủi ro nội tại phát sinh trong quá trình hoạt động của ngân hàng.