Mở đầu, Kết luận và Kiến nghị, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 4 chƣơng sau: Chƣơng 1: Lý luận chung vềquản trị rủi ro tín dụng trong ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 3: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Quân Đội – Chi nhánh Hoàng Quốc Việt Chƣơng 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Quân Đội – Chi nhánh Hoàng Quốc Việt 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Ngân hàng thương mại và hoạt động của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường 1. Khái niệm Ngân hàng thương mại Lịch sử phát triển của hệ thống ngân hàng gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa.
Sự phát triển hệ thống ngân hàng thƣơng mại đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hóa, ngƣợc lại kinh tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trƣờng thì NHTM cũng ngày càng đƣợc hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu đƣợc. Cùng với sự phát triển đó có rất nhiều quan điểm và định nghĩa khác nhau về Ngân hàng, nhƣ: Theo WorldBank, “Ngân hàng là tổ chức tài chính nhận tiền gửi chủ yếu dƣới dạng không kỳ hạn hoặc tiền gửi đƣợc rút ra với một thông báo ngắn hạn (tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn và các khoản tiết kiệm). Dƣới tiêu đề “các ngân hàng” gồm có: các Ngân hàng thƣơng mại chỉ tham gia vào các hoạt động nhận tiền gửi, cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn; Các Ngân hàng đầu tƣ hoạt động buôn bán chứng khoán và bảo lãnh phát hành; Các Ngân hàng nhà ở cung cấp tài chính cho lĩnh vực phát triển nhà ở và nhiều loại khác nữa. Tại một số nƣớc còn có các ngân hàng tổng hợp kết hợp hoạt động ngân hàng thƣơng mại với hoạt động ngân hàng đầu tƣ và đôi khi thực hiện cả dịch vụ bảo hiểm.Rose, “Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán.
Và cũng thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.” Theo quy định tài điều 4, Luật các Tổ chức tín dụng của nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đƣợc Quốc hội khóa 12 thông qua, “Ngân hàng thƣơng mại 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com là loại hình ngân hàng đƣợc thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Trong đó, hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thƣờng xuyên các nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Từ những cách định nghĩa khác nhau trên về Ngân hàng thƣơng mại, có thể rút ra: - Ngân hàng thƣơng mại là một tổ chức trung gian tài chính làm cầu nối giữa khu vực tiết kiệm với khu vực đầu tƣ của nền kinh tế với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay. - Ngân hàng thƣơng mại là một loại hình doanh nghiệp cung cấp danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán.
Ngoài ra, Ngân hàng thƣơng mại là một loại hình doanh nghiệp cung cấp danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, Ngân hàng thƣơng mại còn cung cấp nhiều dịch vụ tài chính khác nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ tài chính của xã hội. Hoạt động của ngân hàng thương mại 1. Vai trò của Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế 1.
Đối với sản xuất lưu thông hàng hoá a) NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế Khi nhắc tới vai trò của ngân hàng thƣơng mại thì không thể không nhắc tới vai trò cung ứng vốn đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế.Để có thể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh điều đầu tiên các chủ doanh nghiệp phải quan tâm đó là vốn. Nếu không có vốn thì doanh nghiệp sẽ bị mất cơ hội đầu tƣ, mất đi lợi nhuận mà lẽ ra có thể thu đƣợc. Do nhƣợc điểm của thị trƣờng tài chính dẫn đến ảnh hƣởng tới tính liên tục của chu trình tài chính nhƣ sự không khớp nhịp giữa cung vốn và cầu vốn qua vấn đề thời gian và lƣợng vốn, rủi ro đạo đức, rủi ro mất khả năng thanh toán, …NHTM với tƣ cách là một chủ thể kinh doanh trên lĩnh vực tài chính tiền tệ có thể khắc 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phục đƣợc những nhƣợc điểm trên. NHTM chính là ngƣời đứng ra tiến hành khơi thông nguồn vốn nhàn rỗi ở mọi tổ chức, cá nhân, mọi thành phần kinh tế … hình thành nên quỹ cho vay và sử dụng chúng để đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế.
Là một kênh phân phối vốn có hiệu quả NHTM đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có khả năng mở rộng sản xuất kinh doanh cải tiến qui trình công nghệ, từ đó nâng cao năng suất lao động để có thể đứng vững trƣớc sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt của thị trƣờng. Với khả năng cung cấp vốn, NHTM đã trở thành một trong những điểm khởi đầu cho sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. b) NHTM là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường Để có thể tiếp cận với thị trƣờng đầu ra và tìm kiếm lợi nhuận các doanh nghiệp cần phải quan tâm tới thị trƣờng đầu vào của mình mà yếu tố đầu vào quan trọng nhất chính là vốn, đây luôn là mối quan tâm hàng đầu của các nhà kinh doanh vì nó đặt nền tảng đầu tiên cho mọi hoạt động của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp không thể chỉ trông chờ vào vốn tự có mà phải biết khai thác các nguồn vốn khác tài trợ cho hoạt động của mình.Nguồn vốn tín dụng của NHTM sẽ giúp doanh nghiệp giải quyết đƣợc khó khăn đó.
Nhƣ vậy, ngân hàng chính là cầu nối đƣa doanh nghiệp đến với thị trƣờng giúp doanh nghiệp tìm kiếm đƣợc đầu vào, bôi trơn hoạt động sản xuất kinh doanh làm cho nó phát huy hiệu quả một cách tốt nhất trên thị trƣờng, giúp doanh nghiệp và thị trƣờng gần nhau hơn cả về không gian và thời gian. Đối với điều hoà lưu thông tiền tệ a) NHTM là công cụ để nhà nƣớc điều tiết vĩ mô nền kinh tế Nếu NHTW có nhiệm vụ xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ thông qua các công cụ nhƣ: thị trƣờng mở, dự trữ bắt buộc, lãi suất,… thì các NHTM một mặt chịu sự tác động trực tiếp của các cộng cụ này mặt khác nó còn tham gia điều tiết gián tiếp vĩ mô nền kinh tế thông qua mối quan hệ với các tổ chức kinh tế, cá nhân về các hoạt động tài chính tín dụng. Nói cách khác, thông qua hoạt động của NHTM với các chủ thể khác trong nền kinh tế, mọi thông tin có liên quan đến việc hoạch định chính sách tiền tệ sẽ đƣợc phản hồi lại NHTW, giúp NHTW có thể hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô phù hợp trong từng thời kỳ để đảm bảo thúc đẩy nền kinh tế tăng trƣởng và phát triển ổn định. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com b) NHTM là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế Trên thế giới, trong thời đại ngày nay, mỗi quốc gia độc lập thƣờng xuyên tiến hành những mối quan hệ đa dạng và phức tạp trên nhiều lĩnh vực : kinh tế, chính trị, xã hội, ngoại giao, văn hoá, khoa học- kỹ thuật, …trong đó quan hệ kinh tế thƣờng chiếm vị trí quan trọng.
Áp lực cạnh tranh buộc nền kinh tế của mỗi quốc gia khi mở cửa hội nhập phải có tiềm lực lớn mạnh và toàn diện về mọi mặt mà quan trọng nhất là tài chính. Nhƣng làm thế nào để có thể hoà nhập nền kinh tế của một quốc gia với phần còn lại của thế giới ? Câu hỏi này sẽ đƣợc giải đáp thông qua vai trò của hệ thống NHTM với hàng loạt các nghiệp vụ không ngừng đƣợc hoàn thiện và phát triển: thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại hối, uỷ thác đầu tƣ, …Hệ thống NHTM trong nƣớc đã điều tiết tài chính trong nƣớc phù hợp với sự vận động của nền tài chính quốc tế, đƣa nền tài chính trong nƣớc bắt kịp với nền tài chính quốc tế. Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm và tính chất khách quan của rủi ro Rủi ro là nguy cơ xảy ra những sự kiện ngoài mong muốn, gây ra những tác động bất lợi cho cá nhân hoặc tổ chức.
Đối với ngân hàng, các tác động này có thể dẫn đến sự giảm sút trong doanh thu, hoặc đặt ngân hàng vào tình trạng khó khăn về tài chính. Ngoài ra, các tác động này có thể biểu hiện dƣới dạng phi tài chính, gây hậu quả tiêu cực đến uy tín, khả năng sinh lời trong tƣơng lai của ngân hàng.Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng là khả năng xảy ra tổn thất cho ngân hàng. Rủi ro thƣờng đi đôi với lợi ích, rủi ro càng cao thì lợi nhuận kỳ vọng cho ngân hàng càng lớn.Các ngân hàng cần phải đánh giá các cơ hội kinh doanh dựa trên mối quan hệ rủi ro – lợi ích nhằm tìm ra những cơ hội đạt đƣợc lợi ích xứng đáng với mức rủi ro chấp nhận. Do đó, chấp nhận rủi ro là yêu cầu tất yếu đối với ngân hàng.
Có một số quan điểm cho rằng rủi ro là toàn bộ tổn thất có thể xảy ra đối với ngân hàng.Có một số quan điểm cho rằng rủi ro là toàn bộ tổn thất có thể xảy ra đối với ngân hàng.Một số khác lại cho rằng rủi ro chỉ là những tổn thất có thể xảy ra ngoài dự kiến. VÍ dụ, ngân hàng khi cho vay có thể dự kiến 3% các khoản cho vay không thu hồi đƣợc và đã tính phần tổn thất dự kiến này vào chi phí để xác định lãi 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com suất cho vay.