Chương I: Tổng quan về RRTD và quản trị RRTD trong NH thương mại Chương II: Thực trạng quản trị RRTD tại NH TMCP Quốc Tế Việt Nam Chương III: Một số giải pháp tăng cường công tác quản trị rủi ro hoạt động tín dụng tại NH TMCP Quốc Tế Việt Nam 8 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Rủi ro tín dụng tại ngân hàng thƣơng mại 1. Quan niệm cơ bản về rủi ro tín dụng Theo Fitch (1997), RRTD được định nghĩa là tình huống rủi ro xảy ra khi người vay không thể hoặc không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng, dẫn đến việc không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ đã cam kết. Theo Ủy ban Basel (2004) mô tả RRTD là khả năng mà KH vay hoặc bên đối tác không thực hiện được các nghĩa vụ đã được định rõ trong các điều khoản đã được thoả thuận trước đó.
Rose (2004) cho rằng một số tài sản của NH điển hình như các khoản nợ có xu hướng suy giảm về giá trị và dần mất đi bản chất giá trị thì được gọi là RRTD.Volker, cựu chủ tịch Cục dự trữ Liên bang Mỹ (FED), ông đã phát biểu rằng việc tồn tại khoản vay không tốt trong ngành NH là không thể tránh khỏi và nó thể hiện tính chuyên nghiệp trong HĐKD. Điều này nhấn mạnh rằng rủi ro là một phần không thể thiếu trong hoạt động tín dụng của NH, đồng thời nó cũng ám chỉ khả năng xảy ra những biến cố bất thường với hậu quả không lường trước, gây thiệt hại cho NH. Định nghĩa về RRTD theo “Thông tư số 11/2021/TT-NHNN” như sau: “RRTD là những tổn thất tiềm ẩn có thể xảy ra đối với các khoản nợ được cấp tín dụng của các tổ chức, chi nhánh NH nước ngoài mà KH không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ đã cam kết với tổ chức tín dụng. 9 Tóm lại, RRTD được nhìn nhận dưới rất nhiều góc nhìn và quan điểm khác nhau, qua đó có thể đúc kết chung chung về cốt lõi của RRTD thể hiện nguy cơ có thể diễn ra những tổn thất và gây ra hậu quả khó lường trước về mặt tài chính mà các tổ chức tín dụng phải chịu, do KH vay không thực hiện nghĩa vụ hoàn trả gốc và lãi, hoặc không hoàn trả đúng thời hạn đã được quy định.
Xác định các loại rủi ro tín dụng Sơ đồ 1.1 Phân loại RRTD 1. Dựa vào nguyên nhân gây nên rủi ro tín dụng đƣợc phân thành: Rủi ro giao dịch có thể được phân loại dựa trên những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay. Dưới đây là một số loại rủi ro giao dịch thường gặp: - Rủi ro lựa chọn (option risk) được sử dụng để miêu tả các mối đe dọa hoặc không chắc chắn liên quan đến việc sử dụng các lựa chọn tài chính. Được 10 phát sinh do biến đổi không chắc chắn của giá cả và thời gian trong việc thực hiện quyền chọn.
- Rủi ro bảo đảm (security risk) được sử dụng để mô tả mối đe dọa hoặc nguy cơ liên quan đến an ninh và an toàn của hệ thống, tổ chức hoặc cá nhân. Xuất phát từ các lỗ hổng, sự yếu kém trong các biện pháp bảo mật, sự xâm nhập trái phép hoặc các hành vi giả mạo, gian lận, phá hoại. - Rủi ro nghiệp vụ (operational risk) được sử dụng để chỉ các mối đe dọa và liên quan đến các hoạt động liên quan đến các hoạt động và quy trình nghiệp vụ của một tổ chức hoặc DN. Có thể phát sinh từ sai sót, sự cố công nghệ, quy trình không hiệu quả, hành vi nhân viên không đúng quy định, hoặc các yếu tố ngoại vi như thay đổi pháp lý, môi trường kinh doanh tính không ổn định Rủi ro danh mục (Portfolio risk) là loại hình của RRTD, phát sinh từ những hạn chế trong công tác quản lý danh mục cho vay của NH.
Nó có thể được phân thành hai loại rủi ro: rủi ro nội tại (Intrinsic risk) và rủi ro tập trung (Concentration risk). - Rủi ro nội tại (Intrinsic risk): Rủi ro này xuất phát từ những yếu tố và đặc điểm riêng biệt bên trong mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành kinh tế. Nó có nguồn gốc từ đặc điểm hoạt động hoặc sử dụng vốn của KH vay. - Rủi ro tập trung (Concentration risk): Hiện tượng này xảy ra khi NH tập trung quá nhiều vốn vào một số KHDN hoặc lĩnh vực kinh tế cụ thể, tạo ra một sự phụ thuộc quá lớn vào một nhóm KH hoặc ngành kinh tế duy nhất.
Nếu KH hoặc ngành này gặp khó khăn, NH sẽ chịu rủi ro lớn. Rủi ro tác nghiệp (Operational risk) gây ra những nguy cơ tiềm ẩn và tổn thất cả về trực tiếp hoặc gián tiếp do một số nhân viên trong NH, quá trình xử lý và hệ thống nội bộ không đầy đủ hoặc không hoạt động, hoặc do yếu tố bên ngoài tác động vào hoạt động của NH. Đây có thể là lỗi trong quy trình, lỗi nhân viên, lỗi hệ thống, hoặc sự cố bất ngờ từ môi trường hoạt động bên ngoài như thảm họa tự nhiên, sự cố kỹ thuật, tác động từ thị trường, v. Dựa vào khả năng thanh toán nợ 11 Rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn: Xảy ra khi KH không thực hiện việc trả nợ đúng thời hạn đã được thỏa thuận.
Điều này có thể gây khó khăn cho NH trong việc thu hồi vốn. Rủi ro do mất khả năng chi trả: Diễn ra khi KH mất đi năng lực trả nợ do các nguyên nhân như khủng hoảng tài chính, khó khăn kinh doanh, hoặc sự cố không mong muốn. Trong trường hợp này, NH phải tiến hành thanh lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ. Rủi ro không giới hạn ở hoạt động cho vay: Bên cạnh việc cho vay tiền mặt, NH còn có các hoạt động khác như bảo lãnh, cam kết, cho vay thị trường liên NH và tín dụng thuê mua.
Những hoạt động này cũng mang theo RRTD và có thể ảnh hưởng đến tài chính của NH. Các hạng mục xác định mức độ rủi ro tín dụng Trong lĩnh vực NH, RRTD được đánh giá dựa trên các tiêu chí như nợ quá hạn, nợ khó đòi và trích lập dự phòng RRTD. Nợ Quá hạn (NPL) a. Tỷ lệ nợ quá hạn Tiêu chí phản ánh RRTD cơ bản nhất là nợ quá hạn.
Nợ quá hạn là khi đến thời hạn trả nợ theo cam kết trong hợp đồng, bên vay không thể trả một phần hoặc toàn bộ nợ cho bên cho vay. Các khoản nợ quá hạn này sau đó được phân loại thành các khoản nợ xấu. Dư nợ quá hạn Tỷ lệ nợ quá hạn = x 100% (Nguyễn Đăng Dờn, 2010) Tổng dư nợ Nếu tỷ lệ nợ quá hạn cao chứng tỏ chất lượng tín dụng thấp, ngược lại, tỷ lệ nợ quá hạn thấp chứng tỏ chất lượng tín dụng cao. Tỷ lệ tổng dư nợ có NQH Là một chỉ số quan trọng để đánh giá mức độ RRTD của NH đối với một KH cụ thể.
Chỉ tiêu này tính toán tổng số tiền nợ của KH khi khoản vay đầu tiên xuất hiện cho đến thời điểm hiện tại. 12 Tổng dư nợ có nợ quá hạn Tỷ lệ tổng dư nợ có nợ quá hạn = x 100% (Nguyễn Đăng Tổng dư nợ Dờn, 2010) c. Tỷ lệ KH có NQH Tổng số KH quá hạn Tỷ lệ KH có nợ quá hạn = x 100% (Nguyễn Đăng Dờn, 2010) Tổng số KH có dư nợ Đây là chỉ số phản ánh tỷ lệ phần trăm KH trong tổng số KH của NH mà có khoản nợ vượt quá thời hạn trả nợ cam kết trong hợp đồng. Nếu tỷ lệ này tăng cao, tức là có nhiều KH gặp khó khăn trong việc trả nợ đúng hạn, NH cần xem xét và áp dụng các biện pháp xử lý rủi ro phù hợp để giảm thiểu tác nhân xấu lên HĐKD của NH.
Cơ cấu nợ quá hạn theo thời gian Nợ quá hạn ngắn hạn - Tỷ lệ nợ ngắn hạn quá hạn = x 100% (Nguyễn Đăng Dờn, 2010) Nợ ngắn hạn Nợ quá hạn dài hạn - Tỷ lệ nợ dài hạn quá hạn = x 100% (Nguyễn Đăng Dờn, 2010) Nợ dài hạn e. Khả năng thu hồi nợ quá hạn NQH có khả năng thu hồi NQH có khả năng thu hồi = x 100% (Nguyễn Đăng Dờn, Nợ quá hạn 2010) NQH không có khả năng thu hồi NQH không có khả năng thu hồi = x 100% (Nguyễn Nợ quá hạn Đăng Dờn, 2010) 1. Nợ xấu 13 Theo quy định của (NH Nhà Nước, 2007) nội dung quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2007 của Thống đốc NHNN, các tổ chức tín dụng (TCTD) thực hiện phân loại nợ thành 5 nhóm. Các nhóm này được xác định dựa trên mức độ rủi ro và khả năng thu hồi của nợ.
Dưới đây là danh sách 5 nhóm nợ: Sơ đồ 1.2 Danh sách các nhóm nợ Ngoài ra, để chuyển các khoản nợ từ nhóm 2 xuống nhóm 1, thời gian cần thiết là 6 tháng đối với các khoản vay trung dài hạn và 3 tháng đối với các khoản vay ngắn hạn, tính từ ngày KH thanh toán đầy đủ các khoản nợ quá hạn, bao gồm cả gốc và lãi, hoặc khi các tổ chức tín dụng tái cơ cấu lại thời gian thanh toán. Đồng thời, theo quy định, tất cả các khoản nợ của KH tại các tổ chức tín dụng sẽ áp dụng cùng chung một nhóm. Điển hình như, nếu KH có hai khoản vay tại các TCTD và một trong hai khoản nhảy nhóm nợ, thì khoản vay còn lại cũng sẽ được phân vào nhóm nợ đó (nhóm có rủi ro cao nhất). 14 Danh sách khoản nợ thuộc từ nhóm 3 đến nhóm 5 được xem là nợ xấu có những đặc điểm dưới đây: Nợ xấu được xác định dựa trên thời gian chậm trễ thanh toán, tức là KH không thanh toán đúng hạn hoặc không trả đủ khoản nợ trong một khoảng thời gian dài.
Nợ không có đủ năng lực trả nghĩa là người vay mất đi khả năng hoặc ý định trả nợ theo thoả thuận ban đầu. Giá trị TSBĐ không đáp ứng đủ cho khoản vay hoặc giá trị TSBĐ bị suy giảm đáng kể so với thời điểm ban đầu. Và những khoản nợ quá hạn từ 90 ngày trở lên có nguy cơ cao là không thể thu hồi hoặc chỉ có thể thu hồi một phần. Nợ xấu Tỷ lệ nợ xấu = x 100% (Nguyễn Đăng Dờn, 2010) Tổng dư nợ Chỉ số nợ xấu là một thước đo quan trọng nhằm mục đích đánh giá quy mô tín dụng trong một TCTD.
Khi chỉ số nợ xấu tăng cao, cho thấy có sự suy thoái trong tình hình tín dụng và khó khăn trong việc thu hồi nợ của KH.