CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU c – CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÍN DỤNG, RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI – CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU – CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU – CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ GIẢI PHÁP c CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÍN DỤNG, RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Khái niệm về tín dụng Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa tổ chức tín dụng (bên cấp tín dụng) với các tổ chức và cá nhân (bên đi vay) trong đó tổ chức tín dụng thực hiện việc chuyển giao các nguồn vốn tiền tệ hoặc tài sản cho bên đi vay trong một thời gian nhất định theo nguyên tắc có hoàn trả cả vốn và lãi vay. “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó Tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.” (Theo khoản 01 Điều 03 của Quy chế cho vay của Tổ chức Tín dụng đối với khách hàng - ban hành kèm theo QĐ 1627/2001/QĐ- NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước) Cấp tín dụng được thực hiện dưới các hình thức: Cho vay Chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác Bảo lãnh Cho thuê tài chính Các hình thức khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước 2.2 Phân loại hoạt động tín dụng Dựa vào mục đích cho vay, hoạt động tín dụng có thể phân chia thành các loại sau: – Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp – Cho vay tiêu dùng cá nhân – Cho vay mua bán bất động sản – Cho vay sản xuất nông nghiệp c – Cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu –. Dựa vào thời hạn cho vay, hoạt động tín dụng có thể phân chia thành các loại sau: – Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có thời hạn đến 1 năm. Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu động.
– Cho vay trung hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 1 đến 5 năm. Mục đích của loại cho vay này là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản cố định. – Cho vay dài hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm. Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ đầu tư vào các dự án đầu tư.
Dựa vào sự đảm bảo tín dụng, hoạt động tín dụng phân chia thành các loại sau: – Cho vay không có bảo đảm: là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng vay vốn để quyết định cho vay. – Cho vay có bảo đảm: là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm cho tiền vay như thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba nào khác. Dựa vào phương thức cho vay, hoạt động tín dụng phân chia thành các loại sau: – Cho vay theo món vay: là loại cho vay mà mỗi lần vay vốn, khách hàng và Tổ chức tín dụng thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng. – Cho vay theo hạn mức tín dụng: là loại cho vay mà Tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thỏa thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định.
– Cho vay theo hạn mức thấu chi: là việc cho vay mà Tổ chức tín dụng thỏa thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng. Dựa vào xuất xứ tín dụng, hoạt động tín dụng có thể phân chia thành các loại sau: c – Cho vay trực tiếp: ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu, đồng thời người đi vay trực tiếp trả nợ vay cho ngân hàng. – Cho vay gián tiếp: là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán như là: chiết khấu thương mại; bao thanh toán. Dựa vào hình thức cấp tín dụng, hoạt động tín dụng có thể phân chia thành các loại sau: – Cho vay – Cho thuê tài chính – Chiết khấu và tái chiết khấu giấy tờ có giá – Bảo lãnh – Bao thanh toán – … 2.3 Vai trò của tín dụng ngân hàng thương mại trong nền kinh tế Tín dụng là hoạt động cơ bản mang lại lợi nhuận cho ngân hàng Trong hoạt động của ngân hàng thương mại tại Việt Nam, tín dụng luôn là khoản mục chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu hoạt động của ngân hàng.
Nghiệp vụ tín dụng ngày càng được đa dạng hóa càng làm tăng vai trò của tín dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, là khoản mục đóng góp chủ yếu cho lợi nhuận kinh doanh của ngân hàng. Tín dụng là công cụ, đòn bẩy góp phần tăng trưởng kinh tế và điều tiết kinh tế Tín dụng ngân hàng góp phần giảm hệ số tiền nhàn rỗi và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong tất cả các thành phần kinh tế thông qua “đi vay để cho vay”. Tín dụng ngân hàng còn là đòn bẩy kinh tế quan trọng thúc đẩy quá trình mở rộng giao lưu kinh tế quốc tế. Tín dụng ngân hàng cũng góp phần tích cực vào việc hình thành và phát triển về mặt vốn của một công ty.
c Thông qua hoạt động tín dụng, ngân hàng biến đổi điều kiện sản xuất – kinh doanh dịch vụ của các chủ thể kinh tế theo hướng tối ưu, góp phần làm cho chu kỳ vận động của tiền tệ rút ngắn về thời gian, nâng cao vòng quay của tiền tệ. Tín dụng là động lực góp phần hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Với chủ thể là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, tín dụng trở thành động lực kích thích các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp và cá nhân trong các thành phần kinh tế thực hiện tiết kiệm, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn tiền tệ tạm thời chưa sử dụng hiện đang nằm phân tán ở khắp mọi nơi, tiến hành đầu tư cho vay để hình thành cơ cấu kinh tế ở Việt Nam. Nhà nước thông qua tín dụng trong nước và tín dụng quốc tế huy động vốn dưới các hình thức phong phú đa dạng để đầu tư để cải tạo nâng cấp các khu công nghiệp cũ, hình thành các khu công nghiệp mới, khu chế xuất, khai thác dầu khí, năng lượng, đặc biệt ưu tiên đầu tư cho các ngành kết cấu hạ tầng. Tín dụng góp phần tài trợ cho quá trình tái sản xuất, mở rộng và tăng cường tài sản cố định Trong điều kiện sản xuất nhỏ, khi mà kênh tài trợ vốn cho nền kinh tế như ngân sách, vốn tích lũy tự có còn những hạn chế nhất định thì tín dụng ngân hàng sẽ là nguồn vốn tốt nhất tài trợ cho việc đầu tư tài sản cố định của các cá nhân, doanh nghiệp.
Thông qua tín dụng trung và dài hạn, ngân hàng thương mại sẽ giúp khách hàng mở rộng sản xuất – kinh doanh, mua sắm máy móc thiết bị. Từ đó nâng cao giá trị sản lượng, trang bị mới thiết bị cơ sở vật chất có tính năng hiện đại, nâng cao chất lượng sản phẩm và năng suất lao động. Tín dụng tạo điều kiện ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật Ngày nay, khi mà khoa học kỹ thuật đã phát triển mạnh, đặc biệt là những thành tựu trong ngành khoa học ứng dụng đã tạo thời cơ và cũng là thách thức đối với sự tồn tại và phát triển của một tổ chức kinh tế. Tuy việc ứng dụng khoa học này là cần thiết, song một tổ chức đều gặp phải rào cản lớn là chi phí ban đầu khá cao, bản thân vốn tự có của doanh nghiệp không thể đáp ứng được.
Trong hoàn cảnh đó, tín dụng ngân hàng đã có những hỗ trợ tích cực trong việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào hoạt động sản xuất – kinh c doanh. Từ đó giúp doanh nghiệp không ngừng nâng cao vị thế và hiệu quả hoạt động – qua đó nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng ngân hàng. Tín dụng góp phần thúc đẩy việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Trong thời gian quan hệ tín dụng với ngân hàng, ngân hàng sẽ thực hiện chức năng giám sát và kiểm tra mục đích sử dụng vốn vay với tư cách là chủ sở hữu vốn vay cho cá nhân tổ chức. Ngân hàng căn cứ vào các nguyên tắc tín dụng, hướng các doanh nghiệp sử dụng vốn đúng mục đích, có hiệu quả, đôn đốc doanh nghiệp trả vốn gốc và lãi vay đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
Khác với vốn tự có là không phải trả chi phí sử dụng vốn, vốn vay ngân hàng phải chịu những điều kiện ràng buộc về lãi suất, thời hạn và mục đích sử dụng tiền vay nên các cá nhân, doanh nghiệp vay vốn phải có sự tính toán sao cho đảm bảo việc trả nợ vay đầy đủ, đúng hạn và có lợi nhuận giữ lại. Mặt khác, trong quá trình kiểm tra sử dụng vốn vay, ngân hàng sẽ giúp chủ thể đi vay phát hiện những nhược điểm, từ đó có biện pháp kịp thời hạn chế rủi ro có thể xảy ra đối với doanh nghiệp cũng như rủi ro đối với ngân hàng.2 Rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại 2.1 Khái niệm Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng. “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.2 Phân loại rủi ro tín dụng Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro – Rủi ro giao dịch: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách c hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo và rủi ro nghiệp vụ.