Chương 1: Lý luận tổng quan về quản trị rủi ro tín dụng Ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Chi nhánh Tây Sài Gòn Chương 3: Giải pháp tăng cường quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Chi nhánh Tây Sài Gòn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 1 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Rủi ro tín dụng ngân hàng: 1. Khái niệm rủi ro tín dụng ngân hàng: Có rất nhiều học giả đã nghiên cứu về rủi ro và đưa ra nhiều khái niệm về rủi ro theo quan điểm riêng của từng người. Frank Knight, một học giả của Mỹ đầu thế kỷ XX định nghĩa: “Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được”.
Alain Willet cho rằng: “Rủi ro là sự bất trắc liên quan đến biến cố không mong đợi”. Tuy nhiên, định nghĩa rủi ro trong tài chính được nhiều người đồng ý là: rủi ro là sự khác biệt giữa giá trị kỳ vọng của biến cố,và giá trị thực tế của biến cố đó. RRTD NH được hiểu là việc KH không hoặc không có khả năng thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ đối với NH như NH kỳ vọng khi cấp tín dụng. Khi RRTD xảy ra sẽ làm NH suy giảm lợi nhuận từ hoạt động tín dụng và làm NH bị mất vốn.
Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN, RRTD trong hoạt động NH của TCTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động NH của Tổ chức tín dụng do KH không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết. Hiểu một cách khác, RRTD là rủi ro không thu hồi được nợ khi đến hạn do người vay đã không thực hiện đúng cam kết vay vốn theo hợp đồng tín dụng, không tuân thủ theo nguyên tắc hoàn trả khi đáo hạn. RRTD xảy ra khi xuất hiện các biến cố không thể lường trước khiến cho KH không thực hiện được các cam kết đã thỏa thuận với NH. Tóm lại, RRTD là khả năng xảy ra tổn thất do NH cho vay nhưng không thu hồi được nợ đầy đủ, đúng hạn.
RRTD có thể đã biểu hiện ra bên ngoài là các khoản vay quá hạn nhưng cũng là nguy cơ, tuy chưa phát sinh các khoản NQH nhưng vẫn luôn tiềm ẩn rủi ro ngay trong tất cả các khoản vay. Có thể nói, RRTD luôn song hành cùng hoạt động tín dụng của NH. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phân loại rủi ro tín dụng ngân hàng Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, RRTD được chia ra thành 2 loại: rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục.
Rủi ro giao dịch: là một hình thức RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá KH. Rủi ro giao dịch gồm: rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ. + Rủi ro lựa chọn là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi NH lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay. + Rủi ro bảo đảm phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên trị giá của tài sản đảm bảo.
+ Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề. Rủi ro danh mục: là một hình thức RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của Ngân hàng, được chia thành 2 loại: rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. + Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của KH vay vốn.
+ Rủi ro tập trung là trường hợp NH tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số KH, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao. Nguyên nhân rủi ro tín dụng: 1. Nguyên nhân từ phía ngân hàng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 NH đưa ra chính sách và quy trình tín dụng không phù hợp với nền kinh tế, còn chưa chặt chẽ và chưa bám sát thực tế nên dễ dẫn đến rủi ro khi có những KH cố ý lợi dụng kẽ hở để trục lợi. Do trình độ nghiệp vụ của CBTD còn hạn chế nên việc đánh giá các dự án, hồ sơ vay còn chưa tốt, còn xảy ra tình trạng cho vay đối với phương án, dự án không khả thi.
Cán bộ NH thiếu tinh thần trách nhiệm, vi phạm đạo đức kinh doanh như: thông đồng với KH lập hồ sơ giả để vay vốn, vay ké vay hộ, đôi khi còn nể nang trong quan hệ KH. NH cho vay tập trung vào một KH, nhóm khách hàng vượt quá tỷ lệ quy định trên vốn tự có dẫn đến rủi ro rất lớn cho NH nếu KH, nhóm KH trên gặp rủi ro mất khả năng thanh toán hoặc cho vay tập trung vào một nhóm kinh tế dễ bị ảnh hưởng bởi sự biến động của nền kinh tế. Thiếu thông tin về KH và môi trường, thị trường để có cơ sở đánh giá KH, hồ sơ vay một cách chính xác, khoa học trước khi ra quyết định cấp tín dụng. NH quá chú trọng về lợi nhuận, đặt những khoản vay có lợi nhuận cao hơn những khoản vay lành mạnh.
Do áp lực cạnh tranh với các NH khác và tình trạng tham nhũng, tiêu cực diễn ra trong nội bộ NH. Vấn đề quản lý, sử dụng, đãi ngộ cán bộ NH vẫn còn nhiều điểm chưa phù hợp, không tương xứng công sức họ đã góp phần làm nên thành công của NH, gây cảm giác chán nản, mất niềm tin sẽ dễ nảy sinh tiêu cực về sau. Nguyên nhân từ phía khách hàng: Nhóm nguyên nhân khách quan: đó là những tác động nằm ngoài khả năng quản lý và ý chí của KH như thiên tai, hỏa hoạn, chính sách quản lý kinh tế thay đổi thường xuyên, văn bản pháp luật không thống nhất, biến động thị trường do ảnh hưởng của tình hình kinh tế - xã hội. Nhóm nguyên nhân chủ quan: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Người vay vốn sử dụng vốn vay sai mục đích, sử dụng vào các hoạt động có rủi ro cao dẫn đến thua lỗ không trả được nợ cho NH.
Trình độ kinh doanh yếu kếm, khả năng tổ chức điều hành sản xuất kinh doanh của lãnh đạo còn hạn chế. Doanh nghiệp vay ngắn hạn để đầu tư vào tài sản lưu động và cố định dẫn đến không thu hồi vốn đúng chu kỳ ảnh hưởng khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thiếu sự linh hoạt, không cải tiến quy trình công nghệ, không trang bị máy móc hiện đại, không thay đổi mẫu mã hoặc nghiên cứu nâng cao chất lượng sản phẩm.dẫn tới sản phẩm sản xuất ra thiếu sự cạnh tranh, bị ứ đọng trên thị trường khiến cho doanh nghiệp không có khả năng thu hồi vốn trả nợ cho NH. Do bản thân doanh nghiệp muốn chiếm dụng vốn của NH, dùng một loại tài sản thế chấp đi vay nhiều nơi, không đủ năng lực pháp nhân.
Nguyên nhân khác từ bên ngoài: Sự thay đổi bất thường của các chính sách, do thiên tai bão lũ, do nền kinh tế không ổn định. khiến cho cả NH và KH không thể ứng phó kịp thời. Môi trường pháp lý lỏng lẻo, thiếu đồng bộ, còn nhiều sơ hở dẫn tới không kiểm soát được các hiện tượng lừa đảo trong việc sử dụng vốn của KH. Sự biến động về chính trị - xã hội trong và ngoài nước gây khó khăn cho doanh nghiệp dẫn tới rủi ro cho NH.
NH không theo kịp đà phát triển của xã hội, nhất là sự bất cập trong trình độ chuyên môn cũng như công nghệ NH. Sự biến động của kinh tế như suy thoái kinh tế, biến động tỷ giá, lạm phát gia tăng ảnh hưởng tới doanh nghiệp cũng như NH. Sự bất bình đẳng trong đối xử của Nhà nước dành cho các NHTM khác nhau. Chính sách Nhà nước chậm thay đổi hoặc chưa phù hợp với tình hình phát triển đất nước.
Chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Hoạt động tín dụng luôn chứa đựng nhiều rủi ro, khả năng gây ra tổn thất. Khả năng này được xác định dựa trên các biểu hiện của rủi ro trong hoạt động tín dụng của NH: 1. Tỷ lệ nợ quá hạn: Tổng dư nợ có nợ quá hạn Tỷ lệ nợ quá hạn = x 100% Tổng dư nợ cho vay Trong đó, tổng dư nợ gồm các khoản cho vay, ứng trước thấu chi và cho thuê tài chính; Các khoản chiết khấu, tái chiết khấu chứng từ có giá; Các khoản bao thanh toán; Các hình thức tín dụng khác. NQH là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và / hoặc lãi đã quá hạn.
Một cách tiếp cận khác, NQH là những khoản tín dụng không hoàn trả đúng hạn, không được phép và không đủ điều kiện để được gia hạn nợ. Để đảm bảo quản lý chặt chẽ, các khoản NQH được phân loại theo thời gian và được phân chia theo thời hạn thành các cấp độ quá hạn như sau: + Nợ quá hạn dưới 90 ngày – Nợ cần chú ý + Nợ quá hạn từ 91 đến 180 ngày – Nợ dưới tiêu chuẩn. + Nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày – Nợ nghi ngờ. + Nợ quá hạn trên 361 ngày – Nợ có khả năng mất vốn.
Tỷ lệ nợ xấu: Tổng dư nợ xấu Tỷ lệ nợ xấu = x 100% Tổng dư nợ cho vay Nợ xấu là những khoản NQH từ 91 ngày trở lên mà không đòi được và không được tái cơ cấu. Nợ xấu bao gồm những khoản NQH có hoặc không thể thu hồi, nợ liên quan đến các vụ án chờ xử lý và những khoản NQH không được Chính phủ xử lý rủi ro. Nợ xấu (hay nợ có vấn đề, nợ không lành mạnh, nợ khó đòi, nợ không thể đòi,…) là khoản nợ mang các đặc trưng sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.